Home / Bài giảng da liễu / Bệnh giang mai(Syphillis)

Bệnh giang mai(Syphillis)

1- Tên bệnh: Giang mai. Syphilis, Lues.

Giang mai là một bệnh nhiễm khuẩn, lây truyền chủ yếu qua đ ường tình dục nhưng  có thể lây qua đường máu, đường  mẹ sang con và đ ường tiếp xúc trực tiếp với các thư ơng tổn giang mai có loét. Bệnh diễn biến nhiều năm (10, 20, 30) năm có khi cả đời, có lúc rầm rộ, có những thời kỳ ngấm ngầm không có triệu chứng gì làm cho người bệnh lầm tưởng là đã khỏi và  thể lây truyền cho thế hệ sau.

Nếu không được điều trị bệnh có thể xâm nhập vào tới cả các phủ tạng đặc biệt là da, tim mạch, thần kinh trung ư ơng gây nhiều biến chứng rất nặng, có nhiều hình thái lâm sàng khác nhau nên chẩn đoán cũng rất khó khăn.

Bệnh ảnh hưởng tới sức khoẻ  bệnh nhân thậm chí gây tử vong hoặc tàn phế suốt đời nếu không đ ược điều trị kịp thời. Nó ảnh hưởng sâu sắc sức khoẻ và sự phát triển nòi giống của dân tộc.

ở Châu Âu người ta cho rằng bệnh lan truyền do Christopho Colombo cùng 44 thuỷ thủ mang bệnh từ  Haiti về Tây Ban Nha và sau do bệnh lan thành dịch ở Châu Âu vào đầu  thế kỷ 16.

ở Việt Nam bệnh xuất hiện thời kỳ nào cũng ch a xác định rõ. Có thuyết cho rằng bệnh có từ lúc lính của Gia Long viễn chinh sang Xiêm La (Thái Lan) mang bệnh về (thế kỷ 18) vì vậy mới có tên là bệnh tiêm la.

Sự thực bệnh giang mai có từ đời thượng cổ vì trong tài liệu của Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp ng ời ta đã mô tả những thư ơng tổn ở x ương ng uười giống hệt căn bệnh giang mai.

Gần đây người ta cho bệnh giang mai là một trong nhóm bệnh xoắn khuẩn gây nên :

– Bệnh Pian (ghẻ cóc): nguyên nhân  do T.Pertenu . Bệnh này gặp ở Tây Nguyên- Việt Namvà vùng Trung Mỹ nh Mehico…

– Bệnh Pinta ( tiếng Bồ Đào Nha Maldel Pinta có nghĩa là vẽ màu, vì bệnh này để lại các vết màu xanh). Nguyên nhân gây bệnh do T.carateum. Bệnh  này  gặp ở Nam Mỹ nh Braxin, Achentina…

– Bệnh giang mai gây nên do T.Pallidum . Bệnh này gặp ơe tất cả các n ước trên thế giới.

2. Mầm bệnh:

Bệnh giang mai gây nên do xoắn khuẩn nhạt (Treponema pallidum) do Schaudinn vàHoffmann phát hiện ra năm 1905. Đây là 1 loại xoắn khuẩn hình lò xo có 6-10 vòng xoắn, đường kính ngang không quá 0,5µ, dài 6-15µ. Xoắn khuẩn có thể  có 3 loại di động:

– Di động theo trục dọc kiểu vặn đinh ốc.

– Di động qua lại như một quả lắc đồng hồ.

– Di động l ợn sóng.

ở môi trư ờng ẩm ớt cả 3 loại di động này có thể tồn tại và kéo dài đến  2 ngày .

Xoắn khuẩn giang mai là 1 loại vi khuẩn yếu, ra ngoài cơ thể nó không sống quá đư ợc vài tiếng đồng hồ, nó chết nhanh chóng ở nơi khô, ở nơi ẩm ớt nó sống dai dẳng hơn. ở trong nư ớc đá và độ lạnh -20ºC  nó vẫn di động được rất lâu.

ở 45ºC nó bị bất động và có thể sống đ ược 30 phút.

Xà phòng có thể giết được xoắn khuẩn sau vài phút.

Xoắn khuẩn vào cơ thể qua chỗ da và niêm mạc bị xây xát thư ờng là do tiếp xúc trực tiếp do giao hợp,đ ường sinh dục,đường hậu môn hay đường miệng. Từ đó xoắn khuẩn đi vào hạch và 1 vài giờ sau  nó đi vào máu và lan truyền khắp cơ thể.

3- Nguồn bệnh và đ ường lây:

Những năm gần đây bệnh giang mai đã tăng ở nhiều nước. Bệnh tăng rõ rệt ở các nư ớc nhiệt đới và các n ước phát triển.

Hình thái lâm sàng có khác nhau tuỳ theo giống người. Thí dụ: ở người da đen thường hay có biểu hiện viêm nhiều hạch trong giang mai sớm hoặc hay có sẩn hình nhẫn, mụn mủ, viêm xư ơng khớp, viêm mống mắt hoặc trong giang mai muộn thì hay gặp biến chứng tim mạch. Ngược lại giang mai thần kinh, ( tabes) liệt toàn thân lại rất hiếm gặp ở người da đen.

ở Việt Nam trư ớc năm 1945 và trong thời kỳ Pháp tạm chiếm cho đến năm 1954, bệnh giang mai đứng hàng thứ 2 sau lậu. Phần nhiều bệnh nhân tự chữa hoặc đến thầy thuốc t  nhân nên số liệu không chính xác.

Từ 1956-1964 ở Miền Bắc giải phóng, đời sống ổn định, ở các nhóm có nguy cơ cao được kiểm tra. Đã phát hiện trong những năm đầu là 1000-1500 ca/năm. Tỷ lệ so với dân số là 0,1/1000.

Số lượng giảm dần, cho đến 1963-1964 mỗi năm chỉ phát hiện khoảng 20 ca (tỷ lệ so với dân số lúc đó là 0,01/1000). Bệnh giang mai cũng nh  các bệnh LTQĐTD  khác đã giảm 10 lần so với năm 1954.

Từ 1965-1975 là  thời kỳ chiến tranh, trật tự và nếp sống bị đảo lộn, tâm lý sinh hoạt không bình thường, y tế khó khăn, các bệnh hoa liễu tăng lên ở miền Bắc và đặc biệt đến  năm 1975 khi đất n ước được thống nhất, số người bị mắc bệnh giang mai đã lên tới 160.000 ca, tỷ lệ là 5/1000 (so với tổng số dân lúc đó là 45 triệu).

Số gái mãi dâm tăng, ở thành phố Hồ Chí Minh khoảng 30.000 ng ời   (64% trong số này có thử nghiệm huyết thanh  + ).

Tỷ lệ giang mai bẩm sinh: 1,25%.

Tỷ lệ sản phụ bị giang mai: 4,5%.

Từ 1975 đến 1990, mỗi năm ngành da liễu điều trị cho khoảng 10-20.000 bệnh nhân giang mai.

Số liệu này còn có thể nhiều hơn vì bệnh nhân tự chữa hoặc chữa t  không đến các cơ sở y tế của nhà n ớc để có số liệu thống kê chính xác.

Theo điều tra của Bùi Kim Ân 1977. Tỷ lệ mắc bệnh giang mai trên gái  mãi dâm ở khu vực Hà Nội là 18,8% trên các đối tượng có hành vi nguy cơ cao (nhân viên massage có tỷ lệ t ương ứng là 1,8%). Tỷ lệ phản ứng huyết thanh giang mai d ơng tính là 1%, qua điều tra trên 1600 mẫu máu của  các đối tượng đến khám tại phòng khám chuyên khoa da liễu.

Nguồn bệnh: là người mắc bệnh giang mai kể cả giang mai kín, giang mai.

Giai đoạn 3: Ngoài ra không có nguồn nào khác nh  từ động vật hoặc côn trùng.

Đư ờng lây truyền: là đ ường trực tiếp tiếp xúc giữa người bệnh và ngư ời  lành hoặc gián tiếp qua đồ vật. Ta có thể khái quát có 3 đ ường chính sau:

– Lây truyền qua đường tình dục.

– Lây truyền qua đường máu(tiêm truyền máu hoặc tiêm chích ma tuý mà bơm tiêm không vô khuẩn).

– Truyền từ mẹ sang con (qua nhau thai từ tháng thứ 4 trở đi).

4 – Triệu chứng lâm sàng:

Theo cổ điển bệnh giang mai tiến triển làm 3 thời kỳ : giang mai 1, giang mai 2, giang mai 3. Giữa các thời kỳ có giai đoạn không có triệu chứng lâm sàng   gọi là  giang mai kín .

Theo cách phân loại mới , bệnh hiang mai có 2 loại :

– Giang mai mắc phải ( Syphilis acquise)

– Giang mai bẩm sinh ( Syphilis congénitale).

Giang mai  mắc phải :

Giang mai mới và lây

Giang mai thời kỳ 1

Giang mai thời kỳ 2:

Giữa thời kỳ 1 và 2 có giai đoạn không có triệu chứng lâm sàng và giữa thời kỳ 2 sơ phát đến thời kỳ 2 tái phát ( giang mai tái hồi) cũng có giai đoạn không triệu chứng lâm sàng gọi là giang mai 2 kín sớm.

Giang mai muộn không lây

Giữa thời kỳ giang mai 2 tái  hồi có giai đoạn không triệu chứng lâm sàng gọi là kín muộn sau đó đến giang mai 3.

Giang mai bẩm sinh:

Thai nhi bị lây từ mẹ khi còn nằm trong tử cung nên khi đẻ ra đã mắc bệnh, d ới nhiều hình thái khác nhau.

– Giang mai bẩm sinh sớm xuất hiện trong 2 năm đầu.

– Giang mai bẩm sinh muộn xuất hiện khi bé đã trên 3 tuổi.

– Di chứng của giang mai bẩm sinh:các thư ơng tổn giang mai ở thai nhi đã thành sẹo và khi bé ra đời đã có sẵn các dấu hiệu như trán dô, mũi tẹt hình yên ngựa, xư ơng chày hình l ỡi kiếm, tam chứng Hutchinson (răng Hutchinson, điếc nhất thời, lác quy tụ).

Lâm sàng giang mai thời kỳ 1:

Đặc điểm giang mai 1 là thời kỳ xoắn khuẩn xâm nhập tại chỗ và qua hệ thống mạch máu đã lan toàn thân. Tổn thư ơng khu trú tại chỗ, nông điều trị khỏi hoàn toàn không để lại di chứng ít nguy hiểm cho bản thân người bệnh nếu điều trị kịp thời. Nh ng rất nguy hiểm cho xã hội vì lây rất mạnh (nhiều xoắn khuẩn tại các tổn thương, bệnh nhân không có cảm giác chủ quan vẫn quan hệ với nhiều bạn tình được).

Giai đoạn này xuất hiện sau khi ủ bệnh 3-4 tuần hoặc 3 tháng và kéo dài 1-2 tháng với các triệu chứng sau:

4.4.1.Trợt  phát ngay ở chỗ xoắn khuẩn đột nhập vào cơ thể, ở đàn ông khu trú ở quy đầu, rãnh quy đầu, nhưng cũng có thể ở miệng sáo, ở hãm, ở bìu, ở vùng xương mu ở trực tràng quanh hậu môn đối với người có quan hệ đồng giới.

ở đàn bà thư ờng xuất hiện ở cổ tử cung, thành âm đạo, môi lớn, môi bé, âm vật. Còn có thể có ở một số vị trí khác nh  hạnh nhân, họng, l ỡi hoặc môi, ở trên trán, ở vú có khi ở ngón tay nhất là đối với nữ hộ sinh đỡ đẻ cho bệnh nhân giang mai.

Đặc điểm của trợt là:

– Vết trợt nông hình tròn hay bầu dục bằng phẳng với mặt da, màu đỏ t ơi, không có mủ, không có vảy th ường đơn độc.

– Không ngứa, không đau.

– Nền rắn như  mảnh bìa.

Ngày nay người ta gặp nhiều loại chancre không điển hình như mô tả.

1/3 số bệnh nhân có nhiều trợt loét, 25% có loét gây đau và không có nền rắn như cổ điển. Có thể trợt bội nhiễm, trợt hoại tử hoặc trợt khổng lồ.

Một số trường hợp không điển hình:

25% bệnh  nhân giang mai không có loét mà biểu hiện là thư ơng tổn  của thời kỳ 2. Trong thời kỳ ủ bệnh do dùng penicilline đã làm cho loét xuất hiện chậm hoặc không xuất hiện.

Ở đàn ông đôi khi chancre khu trú ở niệu đạo hơi sâu trong miệng sáo, chỉ thấy ít tiết dịch nhầy và rắn chắc. ở hãm dương vật loét trông giống nh một vết nốt hình raquette (vợt). Nếu ở trong bao quy đầu sẽ gây phù nề nhiều làm cho d ương vật hình chuông, vợt (raquette).

Ở đàn bà loét ở môi lớn gây phù nề nhiều ở một bên âm hộ. Khu trú ở cổ tử cung hay gặp nhưng thường bị bỏ sót vì không gây đau đớn gì. ở hậu môn khi biểu hiện bằng vết nứt thâm nhiễm và đau buốt. Các khu trú khác ngoài sinh dục như môi, núm vú, ngón tay đều có đau. Loét tự khỏi sau 5-6 tuần, thư ờng chỉ để lại sẹo nông và mỏng. Nếu đ ược điều trị xoắn khuẩn hết sau 24 – 40 giờ và th ương tổn lành nhanh chóng.

4.4.2. Vài ngày sau khi có trợt, các hạch vùng lân cận thường viêm to thành 1 chùm gồm nhiều hạch trong đó có 1 hạch to đ ược gọi là hạch chúa. Bắt đầu hạch ở 1 bên, sau có thể cả 2 bên. Hạch có các tinh chất như sau:

-Rắn.

-Di động.

-Không làm mủ.

-Không liên kết lại với nhau.

Tr ờng hợp loét bị bội nhiễm, hạch cũng sưng nóng đỏ đau nhưng không vỡ mủ.

4.5. Giang mai thời kỳ 2:

Đặc điểm của giang mai 2: là  thời kỳ nhiễm trùng máu. Xoắn khuẩn xâm nhập vào tất cả các cơ quan phủ tạng. Tổn thuư ơng đa dạng như ng ch a phá huỷ tổ chức nên có thể hồi phục hoàn toàn nếu đ ược điều trị kịp thời. Thời kỳ này đối với bản thân bệnh nhân ch a thực sự nguy hiểm nhưng đối với cộng đồng xã hội thì rất nguy hiểm vì lây lan rất mạnh, ở tất cả các tổn thương đều có xoắn khuẩn.

Giang mai thời kỳ 2 xuất hiện: trung bình khoảng 6-8 tuần sau khi có loét. Các thương tổn ở niêm mạc xuất hiện rầm rộ và lan toả trong khi đó 1/3 số tr ường hợp chancre giang mai vẫn tồn tại ch a mất hết.

Ngư ời ta chia giang mai thời kỳ 2 thành: giang mai thời kỳ 2 sơ phát và giang mai thời kỳ 2 tái phát.

Tổn thư ơng giang mai thời kỳ 2 có những đặc điểm sau:

– Có nhiều dạng th ơng tổn, đặc điểm chung là không ngứa, không đau.

– Các thư ơng tổn sớm th ờng lan toả toàn thân và đối xứng.

Các thương tổn giang mai 2 muộn có khuynh h ướng khu trú hơn và không đối xứng.

– Thương tổn rất đa dạng th ường nông hơn trên mặt da như dát (hồng ban) sẩn, sẩn vẩy, sẩn mủ, mụn mủ.

– Viêm hạch nhỏ lan toả với các tính chất như  giang mai 1, rắn không đau và di động.

– Có 1 số triệu chứng toàn thân: sốt nhức đầu về đêm, khàn tiếng đau x ương khớp.

– Không có triệu chứng cơ năng kèm theo. Tuy nhiên các th ương tổn ở nang lông, mụn mủ có thể hơi ngứa. Các thư ơng tổn ớt, chảy mủ hay tiết dịch có thể ngứa rát.

– Các thư ơng tổn giang mai 2 tái phát th ường thành hình vòng cung, hình nhẫn và không đối xứng.

Các loại thương tổn của giang mai thời kỳ 2:

– Đào ban là các dát màu hồng, ấn kính mất, thư ờng thấy ở vùng bụng, mạng s ờn, bả vai, các nếp gấp tay chân. Đào ban xuất hiện ở da đầu gây rụng tóc.

Sau 1 thời gian không điều trị gì đào ban cũng mất đi để lại một ít vết có sắc tố nhẹ. ở ng­ười da màu có thể gặp những dát trắng loang lổ tròn hay bầu dục quanh cổ, vai được gọi là vòng vệ nữ.

– Viêm hạch lan toả: Các hạch nhỏ, rắn xuất hiện nhiều nơi nh  cổ, d ưới cằm sau tai, nách, bẹn, cùi tay,  lăn d ưới ngón tay, không dính vào nhau.

– Các mảng niêm mạc khu trú vào các niêm mạc như quanh mép mũi, quanh hậu môn, âm hộ. Có thể trợt loét, sẩn sùi hoặc nứt rõ, có vẩy tiết, chứa nhiều xoắn khuẩn và rất lây.

– Sẩn nổi cao trên mặt da rắn chắc, màu đỏ đồng hình bán cầu chung quanh có viền vẩy.

Sẩn rất đa dạng: sẩn có vẩy, sẩn trợt, sẩn có mủ, sẩn loét, đa dạng cả về vị trí và cách sắp xếp: sẩn hình cung, sẩn hình nhẫn, sẩn nang lông, sẩn dạng trứng cá.

Ở những vùng nóng và ẩm của cơ thể nh kẽ mông, hậu môn, âm hộ, nách, các sẩn th ường có chân bò ra bề mặt phẳng và ớt có khi xếp thành vòng chung quanh hậu môn, âm hộ, chứa rất nhiều xoắn khuẩn và rất lây gọi là Comdylomalata.

Ở lòng bàn tay, bàn chân do lớp sừng dày sẩn thường có bề mặt phẳng, bong vẩy da theo hư ớng ly tâm nên để lại một viền vẩy chung quanh sẩn gọi là viền vẩy Biett.

Ở những đợt giang mai 2 tái phát muộn, các sẩn thường xếp thành 1 chùm trung tâm là 1 sẩn lớn, chung quanh có nhiều sẩn nhỏ gọi là corymbiose syphilide ( chùm sẩn giang mai).

– Những biểu hiện toàn thân: viêm mống mắt, viêm gan, viêm họng khàn tiếng, viêm màng xư ơng, đau rức x ương đùi về đêm, viêm thận, biểu hiện thần kinh.

Các thương tổn của giang mai 2 tiến triển thành từng đợt trong vòng 2 năm đầu, càng về sau th ơng tổn càng ăn sâu xuống và khu trú lại.

Nếu không được điều trị các thư ơng tổn này cũng tự mất đi không phải là khỏi mà bệnh ẩn vào trongvà tiếp tục phá hoại cơ thể. Đó là giang mai kín (giang mai ẩn).

Giang mai kín(giang mai ẩn):

Thời kỳ này có thể chia làm 2 giai đoạn: khoảng 2-6 tháng sau khi xuất hiện các th ương tổn của giang mai 2 rồi tự biến hết và b ớc vào giai đoạn kín sớm. Thời kỳ này không có triệu chứng lâm sàng nh ưng vẫn lây cho người khác.

Khoảng 25% bệnh nhân không được điều trị lại thấy xuất hiện các thương tổn của thời kỳ 1 hoặc 2 ở  sẹo loét cũ vào cuối năm thứ 2 hoặc các tổn thư ơng phì đại chung quanh hậu môn như condylomalata.

Các thương tổn này không đ ược điều trị cũng biến mất và sang thời kỳ giang mai kín muộn.ở thời kỳ này bệnh không lây lan nữa, bệnh nhân tưởng đã khỏi tuy nhiên vẫn lây lan cho thai nhi thành giang mai bẩm sinh.

Giai đoạn giang mai kín muộn có thể kéo dài nhiều năm,thậm chí suốt đời bệnh nhân không có triệu chứng gì. Tuy nhiên 1/3 số bệnh nhân này sang năm thứ 3 trở đi sẽ thấy các triệu chứng của giang mai 3.

Giang mai thời kỳ 3:

Đặc điểm của thời kỳ này là tổn th ương khu trú mang tính chất phá hủy tổ chức gây những di chứng không hồi phục, thậm chí tử vong cho bệnh nhân. Đối với xã hội thời kỳ này ít nguy hiểm vì khả năng lây lan trong cộng đồng bị hạn chế. Như ng nếu là thai phụ có khả năng sinh ra con bị giang mai bẩm sinh.

Thời kỳ bắt đầu vào năm thứ 3 của bệnh. Ta có thể phân giang mai thời kỳ 3 thành 3 thể bệnh:

Giang mai củ và gôm giang mai :

Thương tổ khu trú vào da, niêm mạc, cơ bắp, khớp, mắt, hệ tiêu hoá, gan, nội tiết. Th ương tổn chủ yếu là:

– Các củ số lượng ít, khu trú ở 1 vùng, không đối xứng hay gặp ở phần trên lưng các chi. Củ nổi cao trên mặy da, tròn, trơn, thâm nhiễm, không đau, đ ường kính dưới 1cm, hình nhẫn, hình cung, hoặc vòng vèo, lành ở giữa, phát triển ra xung quanh, có khi có vảy như vảy nến.

– Các gôm thường tiến  triển qua 4 giai đoạn:

+ Giai đoạn cứng: 1 khối rắn, tròn, ranh giới rõ ở dưới da, bề mặt da vẫn bình thường.

+ Giai đoạn mềm: mềm từ nông đến sâu, dính vào da làm da đỏ lên, không di động đ ược.

+ Giai đoạn loét: vỡ mủ sánh, dính như  gôm để lại 1 loét đứng thành, đáy có mủ lẫn máu. Bờ tròn đều hoặc thành cung.

+ Giai đoạn thành sẹo: mủ cạn, gôm khỏi để lại 1 sẹo rúm ró.

Vị trí thư ờng gặp là mặt, da đầu, mông, đùi, cẳng chân, vùng trên ngực.

Ở niêm mạc hay gặp ở miệng, môi, vòm miệng, l ỡi, sinh dục và hầu họng.

Ở sinh dục gôm có thể xuất hiện trên sẹo cũ nên được gọi là “chancre Nedute” khôngcó hạch kèm theo, không tìm thấy xoắn khuẩn.

Ở l õi có thể gặp viêm gôm xơ làm l ỡi to lên, tiến triển mãn tính  và có thể biến chứng ác tính.

Giang mai tim mạch:

Chiếm khoảng 10% các bệnh nhân giang mai không được điều trị. Thưòng xuất hiện muộn khoảng 10-40 năm sau khi bị bệnh.

Thường nhất là viêm động mạch chủ lúc đầu không có triệu chứng gì rõ rệt. Điện tâm đồ bình thường. Khi động mạch đã giãn rộng thì phát hiện bằng chiếu X quang.

Hở động mạch chủ nghe rõ tiếng thổi tâm chương. Huyết áp tối đa cao, tối thiểu thấp.

Phồng động mạch chủ khoảng 40% bệnh nhân. Có thể bị vỡ vì thành mạch yếu dần.

Giang mai thần kinh:

Giang mai ăn sâu vào tuỷ  sống vào não gây viêm màng não huyết quản (Meningo-Vascular Syphilis. Xuất hiện 10-20 năm sau khi bị loét).

Giang mai mô thần kinh(Parenchymatous Nevrosyphilis) bao gồm bệnh Taber dorsa:

– Đau chi, dạ dày, khớp.

– Tăng phản xạ đầu gối.

– Tr ơng lực cơ giảm

– Rối loạn cảm giác sâu (không đứng được khi nhắm mắt)

– Rối loạn tiết niệu

– Rối loạn dinh dưỡng,đầu gối to do tiết dịch.

– Phản ứng huyết thanh VDRL (+).

Bại liệt toàn thân, các rối loạn tâm thần. Xẩy ra khoảng 10-25 năm sau khi bị bệnh và chiếm khoảng 4% số bệnh nhân không đ ược điều trị.

4.6.4.Giang mai và thai nghén:  (Giang mai bẩm sinh)

Trong thời kỳ thai nghén giang mai có những đặc điểm: loét giang mai khu trú ở môi nhỏ thường có kích thước to hơn bình thuường, ngược lại các triệu chứng khác của giang mai 2 thường không rõ rệt nên rất khó chẩn đoán.

Sự lây truyền bệnh giang mai từ mẹ sang thai nhi không xẩy ra trong 3 tháng đầu của thời kỳ thai nghén mà xẩy ra từ tháng thứ 4, thứ 5 trở đi (tuần thứ 16, 18, 19 của thai ).

Tuỳ theo mức độ nhiễm bệnh nhiều hay ít mà có những biểu hiện khác nhau.

Nếu thai nhi bị nhiễm một cách ồ ạt thì sẩy thai ở tháng 5, 6 hoặc chết l u.

Nếu nhiễm nhẹ hơn thai nhi có thể đẻ đủ tháng nh ưng chết l u hoặc đẻ ra chết ngay.

Nếu nhiễm nhẹ hơn nữa thì đẻ ra có thể bình thường nhưng vaì ngày sau hoặc trong vòng 6-8 tuần thấy xuất hiện thương tổn giang mai mang tính chất của thời kỳ 2 như bọng nước lòng bàn tay, chân, nứt mép quanh lỗ mũi, chảy nước mũi lẫn máu hoặc viêm xư ơng sụn, đau các đầu chi, giả liệt Patrot. Hoặc trẻ đẻ ra gầy gò nhăn nheo như ông già, bụng to, gan lách to.

Đấy là dấu hiệu của giang mai bẩm sinh sớm, xuất hiện trong 2 năm đầu.

Các triệu chứng của giang mai có thể xuất hiện muộn hơn lúc 3-4 hoặc 5-6 tuổi. Đó là giang mai bẩm sinh muộn. Các triệu chứng giang mai bẩm sinh muộn thường mang tính chất của giang mai 3.

Có thể không có biểu hiện lâm sàng mà chẩn đoán phải dựa vào phản ứng huyết thanh (giang mai kín).

Các triệu chứng thường gặp là:

– Viêm mống mắt kẽ (Interstitial keratitis) hay xuất hiện lúc dậy thì, bắt đầu bằng các triệu chứng nhức mắt, sợ ánh sáng ở 1 bên về sau cả 2 bên. Có thể dẫn đến mù.

– To đầu gối có nước (hydrarthros) 2 đầu gối klhông đau xuất hiện lúc 16-20 tuổi.

– Điếc cả 2 tai bắt đầu từ 10 tuổi, thường kèm theo viêm mống mắt kẽ.

– Thư ơng tổn xư ơng: thủng vòm miệng, mũi tẹt, trán dô, xương chày l ỡi kiếm.

5- Các kỹ thuật xét nghiệm tìm vi khuẩn:

5.1. Tìm vi khuẩn:

Lấy bệnh phẩm trên vết trợt, vết loét hay trên sẩn, mảng niêm mạc, chọc trong hạch.

Soi trực tiếp trên kính hiển vi nền đen, xoắn khuẩn nhìn thấy dưới dạng lò xo di động.

5.2. Các phản ứng huyết thanh chẩn đoán giang mai:

– Kỹ thuật phát hiện nhanh.

Phản ứng Citochol bằng giọt máu hiện nay không làm.

Phản ứng RPR (  Rapid) Rapid Plasma Reagin

Kháng nguyên Cardiolipin tinh chế có gắn than hoạt. Kết quả nhanh và độ đặc hiệu cao

– Các phản ứng huyết thanh cổ điển bao gồm:

+ Phản ứng kết hợp bổ thể nh BW cổ điển, BWKolm.

+ Phản ứng lên bông nh VDRL, Kahn, Citochol.

Tất cả các phản ứng này đều dùng kháng nguyên không phải là xoắn khuẩn mà dùng kháng nguyên lipit lấy từ phủ tạng ng ười, tim bò, bê để phát hiện kháng nguyên reagin có trong huyết thanh bệnh nhân.

– Các phản ứng  đặc hiệu gồm:

+ Phản ứng bất động xoắn khuẩn TPI (Treponemal Pallidum immobili sation test).

+ Phản ứng kháng thể xoắn khuẩn huỳnh quang. FTA (Fluorescent treponemal antibody)

Tpeponemal Antiboly Test và FTA abs (Fluorescent treponemal antibody absorption test đơn giản hơn TPI nh ng  đặc hiệu hơn nên đ ợc sử dụng rộng rãi để   khẳng định chẩn đoán.

+ Phản ứng ngưng kết hồng cầu có gắn kháng nguyên kháng khuẩn TPHA (Treponemal pallidum hemagglutination test).

Các phản ứng  kháng nguyên là  xoắn khuẩn này đều dư ơng tính với một số bệnh  khácnhư Pinta, ghẻ cóc (Pian).

 

6. Điều trị:

Ph ơng pháp trị liệu bằng Asen, Bismut, thuỷ ngân tốt nh ng bất tiện, phải kéo dài trong 4 năm, ít bệnh nhân theo đuổi cho hết đợt điều trị. Hơn nữa sự điều trị  này có nhiều tai biến nặng có thể đ a đến tử vong.

Từ khi có penicilline đến nay hầu như tất cả các nư ớc trên thế giới đều sử dụng penicilline vì những lợi thế của thuốc này đối với xoắn khuẩn. Vì dựa vào sự hiểu biết của các yếu tố sau:

– Cơ cấu của xoắn khuẩn giang mai.

– Sự tổng hợp lớp vỏ của xoắn khuẩn trong quá trình trưởng thành và phân chia.

-Cơ chế tác dụng của penicilline đối với cơ cấu và quá trình trưởng thành và phân chia của xoắn khuẩn.

– Chu kỳ sinh sản của xoắn khuẩn.

– Sự nhạy cảm của xoắn khuẩn.

– Hoạt động dược lý động học của penicilline trong cơ thể bệnh nhân.

– Penicilline có tác dụng đói với xoắn khuẩn bằng cách ức chế men transpeptidaza trong quá trình sinh sản.

– Giang mai mới xoắn khuẩn phát triển nhiều thì tác dụng của penicillin càng tăng.

– Giang mai muộm xoắn khuẩn ít phát triển thì tác dụng càng kém vì vậy cần kéo dài thời gian điều trị.

Nồng độ có tác dụng là 0,07-0,2 UI trong 1 ml huyết thanh và giữ đều đặn từ 15-30 ngày vì xoắn khuẩn sinh sản 33 giờ 1 lần,sẽ bắt gặp d ợc 10-22 lần sinh sản.

– Tất cả các loại Penicilline G đều có tác dụng.

– Để gữi nồng độ thường xuyên kéo dài, người ta hay dùng các loại penicillin chậm tiêu như  Benzathine penicilline hoà tan trong nước (Bicilline, Extencilline, Pendura, Pennadura) hoặc loại hoà tan trong dầu nh  BOM (Benzathine penicilline in araehide oil, alumine monosteard). Khi tiêm 2,4 triệu Benzathine penicilline có thể giữ đ ược nồng độ diệt khuẩn 0,03đv/1ml huyết thanh trong vòng 3-4 tuần.

Có thể dùng penicilline procaine in arachide oil +2%monodarate d’Alumine (PAM) nhưngchỉ l u lại trong máu 3-4 ngày. Nếu dùng fenacilline A của CHDC Đức (Penicilline procaine + 25% Penicilline sodique thì nồng độ P cao hơn trong máu như ng chỉ kéo dài đ ược 12 giờ vì vậy phải tiêm ngày 2 lần mỗi lần 500.000 đv.

Nếu dùng Benzyl penicilline tinh thể hoà tan trong nước thì sau 20 phút có thể đã thải ra ngoài 50% số lượng vì vậy phải tiêm cách 2- 3 giờ 1 phát thì tác dụng mới tốt.

Các phác đồ điều trị

( Tham khảo bài nguyên tắc phác đồ điều trị bệnh LTQĐTD)

Phòng bệnh giang mai

1. Phòng cá nhân: mỡ penicillin, mỡ calomel rửa xà phòng vẫn không đảm bảo.

– Bao cao su: có thể lây qua chỗ xây xát khác không được bao cao su bảo vệ.

2. Phòng chống trong cộng đồng:

– Hợp tác nhiều ngành để giáo dục nam nữ thanh niên sống lành mạnh    – Bảo vệ thuầnphong mỹ tục của dân tộc.

– Phòng ngừa thái hoá truỵ lạc.

-Chống nạn mãi dâm gái điếm.

– Cải tạo gái điếm.

– Xây dựng qui chế c ới xin (cần kiểm tra sức khoẻ trước khi cho đăng ký kết hôn).

– Giáo dục y tế về bệnh LTQĐTD.

– Xây dựng mạng l ới y tế  từ trung ư ơng đến phường xã chú trọng các thành phố, đô thị, hải cảng.

-Tổ chức lồng ghép các hoạt động phòng  chống bệnh vào hoạt động của  mạng lưới đa khoa.

nguồn: benhhoc.com

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *