Các hội chứng bệnh vùng cột sống cổ – Đông Y Việt Bắc
Home / Cơ xương khớp & Cấp cứu / Các hội chứng bệnh vùng cột sống cổ

Các hội chứng bệnh vùng cột sống cổ

   Đau hoặc tê vùng cổ – vai – cánh tay, đau tê này có thể xuống tận hai bàn tay (sau đây gọi tắt chung là vùng vai gáy), là một triệu chứng khá phổ biến, có thể do nhiều nguyên, hay gặp ở người lớn tuổi, đặc biệt là > 40 tuổi, làm ảnh hưởng đến lao động, học tập, sinh hoạt cũng như chất lượng cuộc sống. Trong các nguyên nhân gây đau tê vùng cổ vai hay gặp nhất là thoái hoá cột sống cổ, tiếp đó là bệnh lý do đĩa đệm cột sống cổ…

I. Nhắc lại sơ lược về giải phẫu, sinh lý cột sống cổ

– Cơ thể con người có 7 đốt sống cổ (đánh số từ trên xuống từ C1 đến C7). Cột sống cổ tạo thành đường cong ưỡn ra trước. Giữa hai đốt sống từ C2 trở xuống có các đĩa đệm gian – đốt sống, đĩa này làm đệm giữa cho các đốt sống liền kề. Mỏm ngang có lỗ ngang cho động mạch đốt sống đi qua.

– Lỗ liên đốt sống hay còn gọi là lỗ tiếp hợp hay lỗ gian đốt có các rễ thần kinh tuỷ, chụm lại thành dây thần kinh chui ra ngoại vi. Vì vậy khi các đốt sống bị thoái hoá, can xi hóa tạo ra các gai xương kích thích hoặc chèn ép vào dây thần kinh gây đau và  ảnh hưởng đến động mạch đốt sống. Lỗ liên đốt là 1 khoang xương cứng và giới hạn chứa những thành phần mềm như mạch máu, thần kinh, tổ chức liên kết. Khoang này hẹp do thoái hóa, chấn thương, xẹp đĩa đệm, phù nề đĩa đệm… đều gây ảnh hưởng xấu đến sự vận hành của thần kinh và mạch máu.

– Các dây chằng đốt sống có tác dụng hạn chế sự chuyển động và bảo vệ các thành phần trong ống sống như tuỷ sống cổ và các rễ thần kinh.

– Ống sống được tạo thành bởi lỗ ở thân đốt sống, các cuống và cung sau đốt sống, kéo dài từ lỗ chẩm đễn xương cụt. Tuỷ sống nằm trong ống sống, sau đó là các rễ thần kinh, màng nhện, màng cứng và các mạch máu nuôi dưỡng tuỷ. Các tổ chức ngoài màng cứng gồm tổ chức mỡ và các tĩnh mạch.

– Từ đoạn tuỷ sống C1 –  C4 tách ra các rễ bụng (rễ trước) để tạo thành đám rối thần kinh cổ, nằm ở sát 4 đốt sống cổ trên, các nhánh của đám rối này chi phối cho da, cơ vùng đầu và cổ. Rễ C1 và C2 tạo thành dây thần kinh cổ lớn (còn gọi là dây thần kinh Arnold), dây thần kinh chẩm bé, dây thần kinh tai lớn, dây thần kinh xuyên da của cổ và dây thần kinh trên đòn.

– Các rễ thần kinh đi từ C5 đến D1 tạo thành đám rối thần kinh cổ – vai chi phối cho ra các dây thần kinh chi phối vận động và cảm giác của chi trên và vai gáy.

– Hệ thần kinh giao cảm cổ có hai chuỗi thần kinh giao cảm vùng cột sống cổ, tác động đến tuần hoàn, tuyến mồ hôi và nang lông. Có ba hạch cổ phân bố thần kinh thực vật cho nội tạng, vùng cổ, đầu và hai tay.

II. Nguyên nhân đau vai gáy.

– Do các biến đổi sinh lý – bệnh lý ở tất cả các thành phần cấu trúc giải phẫu, sinh lý vùng cột sống cổ do các quá trình: thoái hoá, viêm nhiễm, khối choán chỗ (như khối u, áp xe…), chấn thương cột sống cổ…

– Do các nguyên nhân cơ học gây nên các hội chứng bệnh lý cột sống cổ như: do thói quen sinh hoạt thiếu khoa học (như nhiều người có thói quen lắc cổ cho “thoải mái”, có khi thấy kêu “răng rắc”… họ nói mới cảm thấy đỡ mỏi cổ và thấy dễ chịu), do người lao động do đặc thù nghề nghiệp nên vùng cổ phải chịu tải trọng quá lớn như phải đội đội đất, đội hàng hoá…, hoặc sử dụng bàn ghế không đúng quy cách buộc vùng cổ phải ở tư thế bất lợi thường xuyên, quá gù, quá ưỡn. Do các nghề buộc phải giữ cổ ở các tư thế không được hợp với chức năng giải phẫu – sinh lý của cột sống như: nghề đánh máy, kế toán, thợ nề, thợ quét vôi ve, lái xe cơ giới (như ô tô, mô tô…), vận động viên thể thao, người làm xiếc, nghệ sĩ dương cầm, vĩ cầm, các nghề có rung xóc vùng cổ gáy gây vi sang chấn trường diễn…

III. Phân loại

   Do bệnh lý vùng cổ – vai rất phong phú, đa dạng nên người ta chia bệnh lý vùng cổ vai ra các hình thái lâm sàng sau đây:

– Hội chứng cổ – đầu: chủ yếu do động mạch đốt sống bị kích thích co thắt gây thiếu máu não hoặc thoái xẹp đĩa đệm, chấn thương gây kích thích do chèn ép các rễ C1, C2, C3 của cung sau.

– Hội chứng cổ – vai – cánh tay: liên quan đến C4, C5, C6, C7, D1, nhất là cổ 5 và cổ 6.

– Hội chứng cổ – tuỷ sống.

– Hội chứng cổ – nội tạng.

– Hội chứng khe cơ bậc thang.

– Hội chứng cổ sau chấn thương.

– Các chứng bệnh vùng cổ không do thoái hoá cột sống.

– Hội chứng động mạch sống nền.

– Hội chứng thần kinh thực vật.

– Hội chứng gẫy mỏm nha: gây chết ngay do bẻ nghẽn đốt cổ sai kỹ thuật.

IV. Các hội chứng lâm sàng vùng cột sống cổ.

1. Đau đầu do đau dây thần kinh chẩm lớn (dây thần kinh Arnold).

   Điểm đau ở ngay dưới da đầu, nhất là khi ấn vào điểm lõm bên của xương chẩm là nơi thoát ra của dây thần kinh chẩm. Đau có thể lan ra một bên của khu vực sau đầu, đau có thể âm ỉ hay dội lên tuỳ theo từng mức độ và tuỳ từng bệnh nhân. Đặc biệt đau nhói buốt khi thày thuốc khám làm động tác ấn vào điểm thoát ra của dây thần kinh chẩm lớn. Đau thường do tổn thương hay kích thích một bên, nhiều khi kèm theo điểm đau ở đốt sống C1- C3 và cả điểm đau rễ cạnh cột sống cổ tương ứng với C2 cùng bên.

2. Đau đầu – cổ do bệnh lý đĩa đệm đốt sống cổ.

– Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ có thể khởi phát từ từ, trên cơ sở đĩa đệm cột sống cổ bị thoái hoá hoặc sau khi gấp quá mức và đột ngột cột sống cổ (sau chấn thương, do thói quen “lắc gập” cổ).

– Cơ chế bệnh sinh thoát vị đĩa đệm đốt sống cổ do hai quá trình: do quá trình thoái hoá sinh học theo tuổi và kết hợp của yếu tố cơ học, miễn dịch, chuyển hoá…

– Triệu chứng của thoát vị đĩa đệm đốt sống cổ: đau cột sống cổ tăng lên khi vận động, đau vùng gáy một hoặc hai bên, hạn chế vận động cột sống cổ ở các tư thế như gấp, duỗi, nghiêng, xoay…

– Khi khám lâm sàng bệnh nhân có hội chứng cột sống cổ, có điểm đau khi ấn vào gai sau cột sống cổ, có điểm đau cạnh sống cổ, co cứng cơ cạnh cột sống cổ, nên bệnh nhân có thể có tư thế chống đau như vẹo cổ, tầm vận động cột sống cổ bị hạn chế.

– Bệnh nhân có hội chứng rễ thần kinh như đau vùng gáy theo phân bố cảm giác của các rễ thần kinh cổ với biểu hiện đau vai gáy hoặc hội chứng cổ – vai – cánh tay, rối loạn vận động (có thể liệt), teo một số cơ ở tay…

– Hội chứng chèn ép tuỷ cổ:  các triệu chứng của hội chứng sẽ tăng dần theo thời gian, tuỳ vị trí thoát vị cột sống cổ ở cao hay thấp mà có thể có các triệu chứng sau: liệt ngoại vi hai chi trên, liệt trung ương hai chi dưới.

– Triệu chứng cận lâm sàng: chụp cột sống cổ có thể thấy các hình ảnh thoái hoá cột sống cổ. Đặc biệt chụp cộng hưởng từ cột sống cổ sẽ thấy vị trí thoát vị đĩa đệm và chèn ép tuỷ cổ.

3. Hội chứng động mạch đốt sống – thân nền.

– Động mạch đốt sống – thân nền cung cấp máu cho não vùng cổ gáy (có gian não và thân não), là vùng rất quan trọng vì nó đảm bảo cho chức năng sống còn của cơ thể và có sự liên quan chặt chẽ giữa động mạch cột sống cổ và cột sống cổ.

– Đường đi của động mạch đốt sống – thân nền: sau khi được tách ra từ động mạch dưới đòn, động mạch đốt sống đi qua các lỗ mỏm ngang của cột sống cổ từ C6 đến C1, chui qua lỗ chẩm to đến cầu não tạo thành động mạch thân nền. Đường kính trung bình của động mạch đốt sống bằng 4,9mm – 5mm cũng tương đương với đường kính lỗ mỏm ngang cột sống cổ, ngoài ra còn có 1 – 2 tĩnh mạch đi kèm nên mọi quá trình biến đổi, chèn ép ở cột sống cổ đều ảnh hưởng đến dòng máu lưu thông nuôi dưỡng phần phía sau của não.

– Trên thực tế chúng ta thường gặp các nguyên nhân sau: hẹp lòng mạch do xơ vữa động mạch hoặc xơ cứng mạch (do tuổi cao), hẹp lòng mạch do hiện tượng bị chèn ép như mỏ gai xương (do thoái hoá), viêm khớp sống cổ, hẹp lỗ mỏm ngang, dị dạng, đè ép khi quay cổ quá mức…

– Các triệu chứng thường gặp là bệnh nhân đau đầu vùng chẩm, vùng hốc mắt, hoa mắt, chóng mặt, có thể nôn hoặc buồn nôn, đi lại loạng choạng không vững, có khi có hiện tượng nhìn đôi, rối loạn phát âm, rối loạn nuốt, có hội chứng cổ cục bộ và hội chứng rễ và dây thần kinh như hội chứng cổ vai, hội chứng cổ vai cánh tay.

4. Hội chứng cổ cục bộ

– Cơ chế gây đau của hội chứng cổ cục bộ là do các quá trình thoái hoá và tình trạng sau chấn thương của các đoạn vận động cột sống cổ, gây ra kích thích cơ học vào dây chằng dọc sau, các bao khớp của cột sống và cốt mạc cột sống.

– Đau đầu do tư thế nghề nghiệp thường gặp ở những người lao động mà công việc bắt buộc phải cúi liên tục như thợ thêu, thợ may, thợ đánh máy, hoặc những người phải ưỡn cổ quá mức như thợ nề, thợ mỏ… Cơ chế đau của loại này chủ yếu do rối loạn trương lực cơ và căng kéo dây chằng.

– Đau đầu do co cứng cơ bù trừ ở những người gù, quá ưỡn, lệch vẹo cột sống cổ: lâm sàng đầu tiên là tăng trương lực cơ ở vùng vai gáy một cách đột ngột sau vận động cổ. Một số yếu tố có thể phụ trợ như nhiễm lạnh, bị gió lùa, ngồi lâu, cúi đầu ra trước. Nếu đoạn trên của đốt sống cổ trên bị tổn thương thì sẽ ảnh hưởng đến cơ thang, vùng vai đòn, nếu đoạn dưới của đốt sống cổ bị tổn thương thì đau khu trú ở hai xương bả vai, các cơ vùng vai gáy cũng bị căng cứng, vận động cột sống cổ bị hạn chế, đôi khi đau có thể lan đến vùng sau và ngoài cánh tay.

– Đau cột sống cổ cục bộ do các nguyên nhân khác như các loại u của dây thần kinh tuỷ sống, u màng cứng, u do di căn từ các nơi khác của cơ thể đến, do viêm đốt sống, do bệnh viêm cột sống dính khớp…

5. Vẹo cổ (Torticolis)

– Vẹo cổ bẩm sinh do dị tật của cơ ức đòn chũm, thường được phát hiện ở lứa tuổi học trò và chỉ được điều trị bằng phẫu thuật.

– Vẹo cổ do chấn thương làm sai khớp hoặc gãy đốt sống cổ.

– Vẹo cổ cấp tính: là một thể đặc biệt của hội chứng cổ cục bộ, do hư xương sụn cột sống cổ, gây rối loạn và hạn chế vận động cột sống cổ. Cơ chế của vẹo cổ cấp tính là do sự kẹt, nghẽn các tổ chức mô và liên kết ở các khớp nhỏ của cột sống, gây chẹn các khớp cột sống cổ ở tư thế sai lệch, ngoài ra có thể còn do bệnh thấp khớp kết hợp.

Trên lâm sàng thấy đầu bệnh nhân bị vẹo hẳn sang một bên, sờ nắn  sẽ thấy hiện tượng căng cơ các cơ vùng vai – gáy. Các động tác vận động cổ về phía bên đối diện hoàn toàn bất lực. Toàn bộ vùng cột sống cổ bị ngay đơ, chắc… nhưng không có dấu hiệu tổn thương thần kinh khu trú. Chụp cột sống cổ thường quy  có hình ảnh hư xương sụn cột sống cổ nhẹ hoặc bình thường.

6. Hội chứng cổ – vai – cánh tay

– Nguyên nhân gây hội chứng cổ –vai – cánh tay có thể do thoát vị đĩa đệm cột sống cổ hoặc do thoái hoá các mỏm gai đốt sống cổ kích thích vào rễ thần kinh ở cổ nên gây đau, có thể có triệu chứng  tê vùng cổ vai, cánh tay.

– Đau vai- cánh tay do thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, thường gặp ở vị trí sau bên chèn ép vào rễ thần kinh gây đau hoặc tê, có thể có tư thế sai lệch cột sống và các triệu chứng thần kinh khu trú. Bệnh thường xảy ra ở lứa tuổi từ 30 tuổi  – 50 tuổi, với các triệu trứng xuất hiện cấp tính như đau cánh tay theo dải da thuộc vùng rễ thần kinh bị chèn ép, vẹo cổ và cột sống cổ ở tư thế gù, đau theo kiểu rễ và dây thần kinh: nghĩa là đau tăng lên khi bệnh nhân thay đổi tư thế, ho, hắt hơi… Hiện nay chẩn đoán xác định bằng chụp cộng hưởng từ.

– Đau vai – cánh tay do thoái hoá cột sống cổ. Thường gặp ở người > 50 tuổi. Biểu hiện lâm sàng bệnh nhân đau cánh tay do hiện tượng rễ thần kinh cổ bị kích thích do các gai xương, hiện tượng thoái hoá này có thể gây hẹp các lỗ liên đốt, gây kích thích hoặc chèn ép vào rễ thần kinh và mạch máu đi qua đó. Các triệu chứng xuất hiện từ từ, không mạnh mẽ như trong thoát vị đĩa đệm. Bệnh nhân hay bị đau về đêm, có cảm giác tê bì hoặc kiến bò thuộc vùng da thuộc rễ thần kinh đó bị xâm phạm, tổn thương. Hình ảnh chụp phim cốt sống cổ sẽ thấy các gai xương… Bệnh diễn biến mạn tính và thỉnh thoảng có đợt đau tái diễn.

– Hội chứng đau rễ thần kinh cổ, tuỳ thuộc vào mức độ của các tác nhân gây bệnh và các rễ thần kinh cổ (kích thích, chèn ép), sẽ xuất hiện trên lâm sàng đau một rễ hoặc nhiều rễ thần kinh, có khi đau cả hai bên, người ta thường thấy đau các rễ C6, C7,C8 và hiếm gặp ở C5.

7. Hội chứng cổ- đầu

– Nguyên nhân gây hội chứng cổ – đầu là do động mạch đốt sống cổ và giao cảm cổ bị chèn ép do các yếu tố như lệch trục cột sống, trượt đốt sống, hẹp ống sống động mạch đốt sống do thoái hoá cột sống cổ gây hẹp lỗ mỏm ngang.

– Về triệu chứng lâm sàng: bệnh nhân đau đầu, có thể chóng mặt, rối loạn nhìn và nghe, nuốt và rối loạn tâm lý, có thể do biến đổi sinh – cơ học của đoạn vận động cột sống cổ, trong đó vai trò của hẹp lòng động mạch là rất quan trọng.

    Các biểu hiện lâm sàng trên phụ thuộc vào tư thế của cổ và đầu, có thể đau đầu từng cơn, viì vậy có thể nhầm với đau đầu Migraine, nuốt khó, chóng mặt, ám điểm lấp lánh, ù tai…

8. Hội chứng cổ – nội tạng do thoái hoá cột sống

    Hội chứng cổ – tim, còn gọi là cơn đau thắt tim do cổ,những thay đổi bệnh lý của hạch giao cảm cổ có ảnh hưởng đến chi phối thần kinh tim qua dây thần kinh sọ não X (dây phế vị). Lâm sàng bệnh nhân có cảm giác đau như đè nén, khoan dùi ở toàn bộ tim hoặc sau xương ức, cơn đau có thể kéo dài 60 phút đến 90 phút. Bệnh nhân có triệu chứng báo trước như đau ở vùng vai, đặc biệt là vùng liên bả. Triệu chứng đau ở vùng tim tăng lên khi cử động đầu, ho hoặc khi nâng cánh tay lên. Trong cơn đau vùng tim bệnh nhân thấy đánh trống ngực, nhịp tim nhanh, có thể có ngoại tâm thu. Điện tim của bệnh nhân không có biến đổi đặc hiệu của thiếu máu cơ tim. Chụp X quang thấy có hiện tượng hư xương sụn của đốt sống cổ. Điều trị bằng Nitroglycerin không có kết quả, trong khi đó kéo dãn cột sống cổ lại cắt được cơn đau vùng tim.

9. Các chứng đau cổ do nhiễm khuẩn

– Lao cột sống cổ: hay gặp ở người có tiền sử bị bệnh lao. Bệnh nhân đau cột sống cổ có tính chất tăng dần và lan ra các chi, co cứng các cơ ở cổ và cố định cổ ở một tư thế, trạng thái toàn thân suy sụp dần, có hội chứng nhiễm độc do lao. Chụp X quang thường quy, chụp cắt lớp hoặc chụp cộng hưởng từ cột sống cổ cho chẩn đoán xác định.

– Cốt tuỷ viêm cột sống cổ.

–  Viêm xương khớp nhiễm khuẩn khu trú ở cổ.

10. Viêm quanh khớp bả vai – cánh tay (viêm quanh khớp vai)

– Bệnh nhân đau ở vai, khó hoạt động khớp vai, đôi khi đau lan xuống cánh tay. Bện thường xảy ra ở người trên 40 tuổi, nguyên nhân do chấn thương hoặc vi chấn thương khớp vai. Hiện nay người ta xếp viêm quanh khớp vai vào bệnh hư khớp.

– Lâm sàng: đau xuất hiện dần dần, nhất là khi dang tay và xoay cánh tay vào trong hoặc giơ tay lên đầu. Đau lan toả từ mỏm vai tới cánh tay, có hiện tượng hạn chế vận động khớp vai rõ rệt, bệnh nhân không thể dùng tay gãi sang bên đối diện được, trường hợp nặng bệnh nhân có triệu chứng “khoá cứng” khớp vai. Đôi khi tổn thương lan rộng xuống gây rối loạn vận động và loạn dưỡng ở bàn tay. Chụp X quang khớp vai có giá trị để chẩn đoán.

11. Đau cột sống cổ do chấn thương

– Chấn thương do quá cúi gây hiện tượng quá dãn ở phía sau và ép cột sống ở phía trước, nên có thể gãy đốt sống, rách vòng sợi phía sau, dãn dây chằng dọc sau và dây chằng liên gai. Nếu tác động mạnh, các cơ ở vùng gáy có thể bị rách, đứt, tạo bọc máu tụ. Động mạch đốt sống cũng có thể bị tổn thương do bị chèn ép.

– Chấn thương do quá ưỡn cột sống cổ làm quá căng phần mềm và đĩa đệm phía trước. Thường gặp bệnh cảnh lâm sàng do một bọc máu tụ sau hầu, với triệu chứng chính là nuốt đau. Nếu quá ưỡn cột sống cổ sẽ gây dễ gãy các mỏm khớp đốt sống, sai khớp đốt sống tại chỗ, có hội chứng cổ cục bộ hoặc tổn thương dây thần kinh chẩm lớn. Bệnh nhân thấy đau ở vùng chẩm, cứng gáy, hạn chế vận động cột sống cổ.

– Chấn thương do văng quật gây sai khớp, gãy xương, đau vùng gáy, hạn chế tầm vận động cột sống cổ. Hội chứng cổ đầu sau chấn thương thường biểu hiện đau gáy dữ dội và đau thần kinh chẩm, động mạch đốt sống cổ cũng có thể bị chèn ép gây trở ngại cho tuần hoàn máu, do đó có thể có thiểu năng tuần hoàn vùng sau của não. Chụp X quang thường quy và chụp cộng hưởng từ sẽ cho chẩn đoán xác định.

12. Hội chứng khe cơ bậc thang

   Trong khoang hẹp giữa các cơ bậc thang trước và giữa có dây thần kinh cổ, các thân nhì của đám rối thần kinh cánh tay và động mạch dưới đòn đi qua.

   Hội chứng này trên lâm sàng biểu hiện: bệnh nhân đau và thấy dị cảm vùng da mặt trong cánh tay, cẳng tay, bàn tay và ngón 4, 5, đôi khi lan đến vùng chẩm. Đau đặc biệt tăng lên khi xoay đầu về phía tay bị đau hoặc hít thở sâu. Trường hợp cơn đau lan tới ngực dễ nhầm với cơn đau thắt ngực. Bệnh nhân thấy yếu cơ, teo cơ ở tay và mô út, đặc biệt thấy căng các cơ ở cổ, nhất là cơ bậc thang trước, bệnh nhân có rối loạn vận mạch ở tay, tay tím tái, phù nề, lạnh đầu chi, nếu nặng thấy mất mạch quay.

KẾT LUẬN:  bệnh lý vùng cột cống cổ rất đa dạng, phong phú. Trong các bệnh lý đó, có loại do thoái hoá, có loại do chấn thương, có loại do bệnh nghề nghiệp… và trong một số nguyên nhân đó, nếu chúng ta biết đề phòng, chúng ta có thể phòng tránh được. Về điều trị bằng Y học hiện đại: có hai phương pháp nội khoa và ngoại khoa, điều trị nội khoa bằng thuốc giảm đau (như Paracetamol, Diclofenac…), thuốc chống thoái hoá khớp (như Viartrin – S), thuốc dãn cơ (Mydocalm, decontractyl), Corticoid, vitamin nhóm B… kết hợp với vật lý trị liệu (bó nến, điện xung, chiếu tia hồng ngoại…), nắn chỉnh, xoa bóp (nhưng phải có chỉ định chặt chẽ của thày thuốc). Điều trị ngoại khoa chủ yếu là phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống, phẫu thuật cắt bỏ mỏm móc lỗ liên đốt… Theo chúng tôi trong điều trị các chứng bệnh vùng cột sống cổ – vai – cánh tay, người bệnh nên kết hợp Tây y và Đông y tuỳ theo từng trường hợp nguyên nhân gây bệnh và nên khám ở các cơ sở chuyên khoa về các chứng bệnh này .

Ban biên tập 

Viện Y học bản địa Việt  Nam

Doctor SAMAN

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *