Home / Sức khoẻ & Đời sống / Đau đầu và bệnh MIGRAINE, nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh.

Đau đầu và bệnh MIGRAINE, nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh.

dau-nua-dau

  Đau đầu là một bệnh hoặc cũng có thể là một triệu chứng của một bệnh, là một bệnh (tạm gọi như vậy) khá phổ biến, vì ít ai trong chúng ta trong cả cuộc đời mà lại không bị đau đầu.

  Đau đầu hay Nhức đầu, là một vấn đề có thể rất đơn giản hoặc vô cùng phức tạp, nó có thể chỉ là triệu chứng của một bệnh thường gặp (như Cảm cúm), hoặc có thể chỉ là sinh lý bình thường (suy nghĩ căng thẳng) có thể Nhức đầu và có thể tự khỏi, song nhiều khi nó cũng là triệu chứng của nhiều bệnh có thể dẫn đến chết người (như u não, viêm não, viêm màng não, đột quỵ…), mặc dù được điều trị và chẩn đoán kịp thời. Đặc điểm, tính chất, vị trí… của nhức đầu cũng vô cùng đa dạng, phong phú vì nó phụ thuộc vào thể trạng từng người, từng loại bệnh, từng thể bệnh, từng nguyên nhân…

   Cho đến thời điểm hiện nay, khi nền khoa học – y học thế giới đã có nhiều tiến bộ vượt bậc, và đã có rất nhiều nghiên cứu về chứng bệnh này, tuy nhiên đau đầu nói chung, đặc biệt là đau đầu Migraine nói riêng, vẫn là sự thách thức đối với Y học, với cơ chế bệnh sinh của đau đầu Migraine này nay vẫn hình thành ba thuyết:

+ Thuyết mạch máu – thể dịch do Wolff đề xướng năm 1963.

+ Thuyết Neuron Thần kinh của Lauritzen đề xướng năm 1986.

+ Thuyết dây V- mạch của Moskowitz năm 1988 là sự kết hợp hai thuyết trên.

Điều đó chứng minh cho sự hiểu biết của con người về chứng bệnh đau đầu còn nhiều hạn chế, vì vậy chúng ta rất cần có những nghiên cứu tiếp tục để điều trị, phòng ngừa… ngày càng có hiệu quả chứng bệnh này, làm giảm đi nỗi lo lắng, nỗi đau đớn của con người.

1) Lịch sử.

+ Cho tới nay, có thể nói rằng, trong các bệnh Thần kinh,  Đau đầu, cùng với Chóng mặt và Động kinh, được con người biết tới sớm nhất, bằng chứng là những mô tả lâm sàng đầu tiên về các bệnh Thần kinh có niên giám vào những năm 1590 -1340 trước Công nguyên, vào khoảng thời đại thứ 17 của Ai Cập cổ đại, do Elber phát hiện ra, được coi là cổ xưa nhất.

+ Hơn hai thế kỷ sau (từ năm 1125 – 1110 trước Công nguyên), người ta đã phân biệt được một cách rạch ròi giữa bệnh Đau nửa đầu (bệnh Migraine) với các loại Đau đầu khác.

+ Đến thế kỷ 2 sau Công nguyên Arettée de Capodoce đặt tên Đau nửa đầu là Đau đầu dị thường (Heterocrania), sau đó danh từ này còn được thay đổi nhiều lần qua các thời kỳ như Đau nửa đầu (Hemicrania; Hemigrania) hoặc Migranea.

+ Tên gọi Migraine (đau nửa đầu), được các tác giả Pháp sử dụng từ thế kỷ 14 và được tồn tại cho đến ngày nay.

+ Cùng theo thời gian, con người cũng đã tìm ra nhiều nguyên nhân dẫn đến Đau đầu, cũng như nhiều phương pháp điều trị có hiệu quả đau đầu. Tuy nhiên, cho đến nay, mặc dù con người đã có nhiều tiến bộ về Khoa học – Kỹ thuật, có khá  nhiều công trình nghiên cứu về đau đầu, nhưng đau đầu vẫn luôn là sự thách thức với Y học hiện đại.

2) Phân loại đau đầu.

   Năm 1988 Hiệp hội Đau đầu thế giới IHS (International  Headache Society) đã cho ra bảng phân loại quốc tế về Đau đầu lần thứ nhất. Đến năm 2003 bảng phân loại Đau đầu quốc tế lần thứ II cũng được hoàn thiện. Trong bài viết này chúng tôi chỉ xin giới thiệu bảng phân loại Đau đầu quốc tế lần thứ nhất. Bảng phân loại lần thứ hai chúng tôi sẽ xin giới thiệu ở bài viết khác.

Bảng phân loại Đau đầu của HIS lần thứ nhất (1988)  

1. Migraine

1.1 Migraine thông thường.

1.2 Migraine cổ điển.

1.3 Migraine liệt vận nhãn.

1.4 Migraine võng mạc.

1.5 Các hội chứng chu kỳ ở trẻ em.

1.6 Các biến chứng của Migraine.

1.7 Migraine không đáp ứng các tiêu chuẩn trên.

2. Đau đầu do căng thẳng.

2.1 Đau đầu do căng thẳng có chu kỳ.

2.2 Đau đầu do căng thẳng mạn tính.

2.3 Đau đầu do căng thẳng không đáp ứng các tiêu chuẩn trên

3. Đau đầu chuỗi và các cơn đau nửa đầu mạn tính.

3.1 Đau đầu chuỗi.

3.2 Các cơn đau nửa đầu mạn tính.

3.3 Các chứng đau đầu giống đau đầu chuỗi không đáp ứng các tiêu chuẩn trên.

4. Các chứng đau đầu khác không do tổn thương cấu trúc.

4.1 Đau đầu typ dao đâm nguyên phát

4.2 Đau đầu do chèn ép ngoài sọ.

4.3 Đau đầu do lạnh.

4.4 Đau đầu lành tính do ho.

4.5 Đau đầu lành tính do gắng sức.

4.6 Đau đầu kèm theo hoạt động sinh dục.

5. Đau đầu kèm theo chấn thương sọ.

5.1 Đau đầu cấp tính sau chấn thương.

5.2 Đau đầu mạn tính sau chấn thương.

6. Đau đầu kèm theo bệnh mạch máu.

6.1 Bệnh thiếu máu não cấp tính.

6.2 Ổ máu tụ trong não.

6.3 Chảy máu dưới nhện.

6.4 Dị dạng mạch máu não không vỡ .

6.5 Viêm động mạch.

6.6 Đau động mạch cảnh hoặc động mạch đốt sống.

6.7 Huyết khối tĩnh mạch.

6.8 Tăng huyết áp động mạch.

6.9 Đau đầu kèm theo các bệnh mạch máu khác.

7. Đau đầu kèm theo các bệnh nội sọ không do mạch máu.

7.1 Tăng áp lực dịch não tuỷ.

7.2 Giảm áp lực dịch não tuỷ.

7.3 Nhiễm khuẩn nội sọ.

7.4 Sarcoidosis và các bệnh viêm vô khuẩn khác.

7.5 Đau đầu liên quan với tiêm vào khoang dịch não tuỷ.

7.6 U nội sọ.

7.7 Đau đầu kèm theo bệnh nội sọ khác

8. Đau đầu liên quan đến hoá chất.

8.1 Đau đầu do sử dụng hoặc tiếp xúc cấp tính với hoá chất.

8.2 Đau đầu do sử dụng hoặc tiếp xúc mạn tính với hoá chất.

8.3 Đau đầu do ngừng sử dụng hoá chất (sử dụng cấp tính)

8.4 Đau đầu do ngừng sử dụng hoá chất( sử dụng mạn tính)

8.5 Đau đầu có liên quan đến hoá chất nhưng cơ chế không xác định.

9. Đau đầu kèm theo nhiễm khuẩn ngoài não.

9.1 Nhiễm Virus.

9.2 Nhiễm khuẩn.

9.3 Đau đầu liên quan đến bệnh truyền nhiễm khác.

10. Đau đầu do rối loạn chuyển hoá.

10.1 Thiếu Oxy.

10.2 Tăng phân áp CO2 trong máu.

10.3 Thiếu Ôxy và tăng phân áp CO2 hỗn hợp

10.4 Hạ đường huyết.

10.5 Lọc máu.

10.6 Đau đầu liên quan đến rối loạn chuyển hoá khác.

11. Đau đầu hoặc đau mặt kèm theo các bệnh xương sọ, gáy, mắt, tai, mũi. xoang, răng, miệng…hoặc cấu trúc sọ mặt khác.

11.1 Xương sọ.

11.2 Gáy.

11.3 Mắt.

11.4 Tai.

11.5 Mũi và xoang.

11.6 Răng, hàm và các cấu trúc liên quan.

11.7 Bệnh khớp thái dương – hàm.

12. Các chứng đau dây thần kinh sọ, thân dây thần kinh và đau do mất dẫn truyền ly tâm.

12.1 Đau dai dẳng các dây thần kinh sọ não.

12.2 Đau dây thần kinh sinh ba.

12.3 Đau dây tahần kinh lưỡi hầu.

12.4 Đau dây thần kinh số VII phụ.

12.5 Đau dây thần kinh hầu trên.

12.6 Đau thần kinh chẩm.

12.7 Nguyên nhân trung ương.

12.8 Đau mặt không đáp ứng các tiêu chuẩn trong nhóm 11 hoặc 12.

13. Đau đầu không được phân loại trong các nhóm trên: do độ cao, nhiễm độc, do thời tiết, dị ứng, yếu tố tâm thần, yếu tố tâm lý, do căng thẳng thần kinh trường diễn…

3. Dịch tễ học về Đau đầu.

 – Đau đầu là một trong những triệu chứng có tỷ lệ cao nhất của nhiều loại bệnh khác nhau. Người ta ước tính trên thế giới cứ 3 người thì có 1 người bị đau đầu dữ dội trong một lúc nào đó trong cuộc đời. Theo Ramusen và cộng sự (1991) nhận xét: các công dân Đan Mạch trong lứa tuổi từ 25-64 có tới 93% nam và 99% nữ mắc ít nhất một chứng đâu đầu.

 – Theo thống kê của Phòng khám bệnh  bệnh viện 103 thuộc Học viện Quân y thì có tới 50% bệnh nhân tới khám có kèm theo triệu chứng đau đầu (GS. TS Nguyễn Văn Chương, chủ nhiệm bộ môn Thần kinh – Học viện Quân y năm 2008).

 – Trong chứng đau đầu thường gặp hàng ngày thì đau đầu Migraine chiếm tỷ lệ cao nhất. Đa số các tác giả cho rằng có khoảng  5 – 10% dân số thế giới (trong đó có khoảng 10 – 11% nam giới và khoảng 12 – 19% nữ giới) mắc bệnh Migraine, tỷ lệ giới tính: nam/ nữ = 1/3, lứa tuổi hay gặp nhất từ 15 – 30 tuổi. Các tỷ lệ này ở Việt Nam chưa có nghiên cứu và thông báo.

 4. Nguyên nhân của đau đầu nói chung và Migraine nói riêng.

 4.1 Nguyên nhân và cơ chế của đau đầu

   Nhìn chung tất cả các cấu trúc cảm giác của hệ thần kinh trong và ngoài sọ đều có thể sinh đau khi bị kích thích gây ra đau đầu. Nguyên nhân của quá trình kích thích có thể do viêm nhiễm,do sự xâm lấn của khối u, do thiếu máu, do các quá trình bệnh lý gây xoắn vặn, dãn căng hoặc phù nề quanh các mạch máu…

   Cơ chế sinh đau của các tổn thương thực thể nêu trên thường qua hai con đường: (hoặc là chúng  kích thích cơ học lên các thụ cảm thể đau như làm căng, làm dãn hoặc xoắn vặn các mạch máu cũng như các tổ chức mang thụ cảm thể đau khác…), (hoặc chúng sinh ra các chất trung gian hoá học như chất Serotonin, Kinin, Prostaglandin…) và các chất này tác động lên các các thụ cảm và gây diễn biến đau trên lâm sàng.

 4.2  Nguyên nhân gây bệnh  của Migraine.

   Ngay từ những năm 60 của thế kỷ trước, thông qua các quan sát thực tế, nhiều tác giả đã cho rằng bệnh Migraine có tính chất gia đình, dần dần nguồn gốc di truyền của Migraine ngày càng được khẳng định.

   Ngày nay người ta đã chứng minh được rằng một trong các thể của Migraine, đó là Migraine liệt nửa  người có gen di truyền nằm  ở tay ngắn của cặp nhiễm thể thứ 19.

   Gần đây nhiều tác giả nhận xét rằng Migraine nằm trong phổ lâm sàng của nhóm bệnh có tên: Bệnh động mạch não di truyền trội theo nhiễm sắc thể thường với  nhồi máu dưới vỏ và bệnh não chất trắng (Cerebral  autosomal  dominant arteriopathy with subcortical infarcts and leucoencephalopathy gọi tắt là CADASIL). Qua đó chúng ta thấy rằng đa số các tác giả cho rằng nguyên nhân của bệnh Migraine là do thay đổi bộ gen di truyền của các bệnh nhân.

 (Chú thích: trong bài viết này chúng tôi có sử dụng một số tư liệu Của GS. TS. BS Nguyễn Văn Chương: chủ nhiệm bộ môn Thần kinh Học viện Quân y. Chúng tôi xin cảm ơn GS Nguyễn Văn Chương.)

Ban biên tập

Viện Y học bản địa Việt Nam

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *