Home / Tim mạch & Huyết học / Dòng máu trong thai nhi chảy thế nào?

Dòng máu trong thai nhi chảy thế nào?

ThaiNhi  Không phải chi có thầy thuốc mới quan tâm cấu tạo cơ thể con người, mà nhiều người trong chúng ta cũng muốn nâng cao sự hiểu biết bằng cách tìm thông tin trên xa lộ thông tin phong phú này, chúng tôi xin cung cấp cho các quý bệnh nhân, các quý bà mẹ, ông bố muốn tìm hiểu xem dòng máu đang chảy trong trái tim còn mình khi còn trong bụng mẹ như thế nào

   Tuần hoàn thai nhi (Fetal circulation). Đại cương về tuần hoàn thai nhi: Tuần hoàn thai nhi là tuần hoàn đảm bảo cho thai nhi sống và phát triển trong bụng người mẹ, khi phổi thai nhi chưa tham gia trao đổi khí, mà toàn bộ sự trao đổi khí phải nhờ người mẹ, thông qua sự trao đổi qua bánh rau.Nghiên cứu tuần hoàn thai nhi bao gồm các vấn đề: tim thai nhi, quá trình tuần hoàn giữa thai nhi và mẹ, những thay đổi bình thường và những hiện tượng thích nghi sau khi thai nhi ra đời và những bệnh lý thường gặp về hệ tuần hoàn thai nhi.Thời gian hiện hữu của tuần hoàn thai nhi từ sau tuần thứ 8 của đời sống thai nhi, cho đến khi trở thành tuần hoàn người trưởng thành bình thường.Cấu trúc tim và mạch thai nhi Sau khi nghiên cứu xong cấu trúc tim người trưởng thành, để nghiên cứu giải phẫu tim thai nhi, chỉ cần tìm hiểu xem tim thai nhi có những điểm khác biệt nào với tim người trưởng thành.

Tuần hoàn thai nhi

Về hình thể ngoài, nói chung tim thai nhi có hình thái gần giống như tim người trưởng thành, thường có hình gần tròn.

Ống động mạch
Giữa chỗ chia nhánh của động mạch phổi và chỗ gặp nhau giữa động mạch chủ ngang và động mạh chủ xuống có một ống động mạch nối thông giữa động mạch chủ và động mạch phổi – gọi là ống động mạch (ductus arterial) hay còn gọi là ống BotalGiữa hai tâm nhĩ, mạch dù có vách liên nhĩ nhưng vách này chưa ngăn hoàn toàn không gian giữa hai tâm nhĩ, mà hai tâm nhĩ vẫn thông nhau (lỗ bầu dục hay gọi là lỗ Botal).
Tim  thai nhi
Mạch máu mang máu từ bánh rau người mẹ đến thai nhĩ gọi là tĩnh mạch rốn – tĩnh mạch rốn thai nhi mang máu màu đỏ tươi có đầy đủ dinh dưỡng và ô xy. Mạch máu này khi đến cơ thể thai nhĩ chui qua rốn, sau đó tĩnh mạch rốn đi men theo mặt sau thành bụng trước, đến chỗ tương ứng bờ trước gan thai nhĩ, chui vào mặt dưới gan, áp sát mặt này và đi tới núm gan thai nhi thì tách thành hai nhánh, một nhánh chạy thẳng theo mặt dưới gan đổ thẳnh vào tĩnh mạch chủ dưới (tĩnh mạch Arantius), một nhánh đổ vào tĩnh mạch cửa rối theo tĩnh mạch cửa vào gan, qua gan và nhờ có 3 tĩnh mạch trên gan đổ vào tĩnh mạch chủ dưới.Máu sau khi nuôi dưỡng cơ thể thai nhi sẽ trở về tuần hoàn của mẹ bằng cách qua động mạch rốn. Động mạch rốn xuất phát từ hai nhánh động mạch chậu, từ đó tách ra hai nhánh động mạch rốn và di ngược theo mặt sau thành bungj trước vùng dưới rốn, đến rốn, động mạch này chui qua rốn ra ngoài đi cùng tĩnh mạch rốn trong dây rốn đến bánh rau của người mẹ.
Qúa trình hoạt động của vòng tuần hoàn thai nhiVòng tuần hoàn thai nhĩ là một vòng tuần hoàn kín, không có điểm đầu và không có điểm kết thúc, tuần hoàn diễn ra liên tục. Để thuận lợi cho nghiên cứu mô tả, chúng ta qui định lấy nơi bắt đầu của tĩnh mạch rốn để mô tả và xin trình bày vắn tắt như sau:Máu đỏ tươi theo tĩnh mạch rốn từ bánh rau vào rốn thai nhi, qua rốn đổ vào tĩnh mạch chủ dưới thai nhi bằng 2 cách (trực tiếp qua ống tĩnh mạch Arantius, gián tiếp qua tĩnh mạch cửa), sau khi máu tĩnh mạch rốn đỏ tươi hoà vào máu tĩnh mạch chủ dưới màu đỏ thẫm thì máu đổ  về tâm nhĩ phải có màu “pha” (máu này chỉ có ở tuần hoàn thai nhi), dòng chảy về tâm nhĩ do cấu tạo của vách liên nhĩ có tác dụng  phân luồng máu làm cho 2/3 cung lượng về nhĩ phải sẽ chui qua lỗ bầu dục sang nhĩ trái để hoà vào máu của tâm nhĩ trái (hiện tượng máu chui qua lỗ bầu dục  có tác dụng rút ngắn đường tuần hoàn), cung lượng về nhĩ phải còn lại qua van ba lá xuống thất phải, đến thơì kỳ thất phải bóp đẩy máu vào động mạch phổi, nhưng vì sức cản mạch phổi cao, phổi lại chưa thở cho nên máu trong động mạch phổi tìm cách không qua phổi hoàn toàn mà chui qua ống động mạch (đã mô tả ở trên) sang động mạch chủ (máu từ động mạch phổi sang động mạch chủ là máu “pha” – đây cũng là rút ngắn đường tuần hoàn).
Huyết động của vòng tuần hoàn thai nhi
Tiếp tục mô tả quá trình tuần hoàn từ nhĩ trái, máu qua van hai lá chui xuống buồng thất trái, rồi từ buồng thất trái máu được đẩy vào động mạch chủ và đi nuôi cơ thể theo hệ thống tuần hoàn chung.Về quá trình truần hoàn phổi, do chưa thở trực tiếp không khi ngoài trời, cho nên phỏi có sức cản cao, máu lên phổi theo động mạch phổi không thể vào phổi để đảm nhận chức năng trao đổi khí, nên máu vào phổi rất ít, đương nhiên  máu từ phổi về nhĩ phải cũng không đáng kể.
Máu từ hệ thống động mạch chậu trong theo động mạch rốn để về bánh rau người mẹ chiếm 50% cung lượng máu tuần hoàn của động mạch chậu.Quá trình máu đi từ động mạch chủ đến các cơ quan ở thai nhi giống như ở người rưởng thành bình thường.Cung lượng tim thai nhi gọi là cung lượng tim kết hợp bằng tổng cung lượng thất trái cộng với cung lượng thất phải (ở người trưởng thành hai cung lượng này là một – gọi là cung lượng tim chung)Tuần hoàn thai nhi có hai đặc điểm giải phẫu tim khác với người bình thường trưởng thành là có ống động mạch và vách liên nhĩ còn thông thương, chưa kín.
Quá trình máu đi qua hai vị trí này là thai nhi bình thường và để rút ngắn đường tuần hoàn từ nhĩ phải đến động mạch chủ, giảm bớt tiêu hao năng lượng cho cơ thể.Máu trong cơ thể thai nhi gồm 3 loại:Máu đỏ tươi là máu trong tĩnh mạch rốn từ rốn đến chỗ đổ vào tĩnh mạch chủ dưới, có độ bão hoà ô xi như máu của người mẹMáu “pha” là máu từ chỗ máu của tĩnh mạch rốn đổ vào tĩnh mạch chủ dưới qua tim theo tuần hoàn hệ thống đi nuôi cơ thể, có đoh bão hoà ô xi thấp hơn của tĩnh mạch rốnMáu đỏ thẫm là máu nằm trong hệ thống tĩnh mạch chủ trên và trong đoạn chưa gặp tĩnh mạch rốn của tĩnh mạch chủ dưới, có độ bão hoà ô xi thấp.
Những thích nghi của hệ thống tuần hoàn sau khi thai nhi ra đờiSau khi thai nhi ra đời – tuần hoàn thai nhi tách biệt hẳn với tuần hoàn người mẹ – thai nhi phải tự đảm bảo cho cơ thể nhu cầu ô xy và năng lượng, trong đó cơ quan hô hấp và tuần hoàn có nhiều sự thay đổi và thích nghi.Thay đổi của tuần hoàn rốnCắt rốn làm cho tuần hoàn thai nhi độc lập với tuần hoàn người mẹ, không có máu chảy qua tĩnh mạch rốn và động mạch rốn dẫn đến:
Các loại máu bão hoà ô xi khác nhau trong cơ thể thai nhi
Đoạn tĩnh mạch rốn từ rốn đến gan teo thành dây chằng tròn, nằm trong rãnh dây chằng tròn mặt dưới gan.Đoạn tĩnh mạch Artantius teo thành ống tĩnh mạch Arantius nằm trong rãnh ống tĩnh mạch Arantius mặt dưới gan.Động mạch rốn không dẫn máu về bánh rau nữa, co lại và dần dần xẹp lại tạo thành hai thừng động mạch rốn đi từ dưới mặt trước bàng quang lên rốnThay đổi của phổiGần đến ngày sinh, cấu tạo của phổi đã được chuẩn bị cho quá trình tự thở của thai nhi, chất căng bề măt đầy đủ, trung khu hô hấp đã dủ khả năng đáp ứng với sự thay đổi phân áp ô xi và phân áp khí carbonic.
Khi thai nhi ra đời, cắt đứt tuần hoàn mẹ sang thai, làm cho phân áp carbonic trong mau động mạch thai tăng lên đột ngột và đủ ngưỡng kích thích trung tâm hô hấp hoạt động, trung tâm điều khiển phổi thở, trong khi đó phổi đã đủ khả năng thở, hít vào các phế nang găng ra chưa không khí, áp lực trong lồng ngực giảm xuống, sức cản mạch phổi giảm xuống, máu từ động mạch phổi ào lên phổi với cung lượng đủ để trao đổi khí rối làm cho lượng máu về nhĩ trái tăng lên theo do tuần hoàn động mạch phổi và tĩnh mạch phổi được mở thông – Cứ như thế, hiện tượng thai nhĩ tự thở để đáp ứng nhu cầu ô xi đã được xác lập và duy trì liên tục, dẫn đến một số đặc điểm của phổi thay đổi: các phế nang phổi căng khí, áp lực phổi giảm, sức cản mạch phổi giảm, cung lượng phổi tăng, thành mao mạch phổi mỏng dần, quá trình trao đổi ô xi giữa mạch mạch phổi và lòng phế nang tăng lên.Thay đổi của timDo sự thay đổi cung lượng phổi làm cho lượng máu lên phổi nhiều, đồng nghĩa với máu từ nhĩ phải xuống thất phải tăng lên, và làm cho lượng máu từ nhĩ phải sang nhĩ trái qua lỗ bầu dục ít dần, dẫn đến giảm áp lực nhĩ phải.
Đồng thời máu từ phổi về nhĩ trái tăng lên cũng đồng nghĩa với vấn đề làm tăng áp lực nhĩ trái. Như vậy sự tăng áp lực nhĩ trái và giảm áp lực nhĩ phải đồng thời xảy ra làm cho chênh áp giữa 2 nhĩ giảm dần tối đa, kết quả là không cần sự lưu thông máu giữa 2 nhĩ, không có luồng thông giữa 2 nhĩ, dần dần lỗ bầu dục đóng kín lại.Cũng do sự thay đổi cung lượng máu phổi làm cho sức cản của mạch phổi giảm dần, giảm nhanh dẫn đến kết quả là máu trong động mạch phổi không sang động mạch chủ nữa, màu chảy thẳng vào phổi để trao đổi ô xi, dần dần luồng thông qua ống động mạch giảm dần, cuối cũng sẽ đóng kín ống động mạch.
Sức cản mạch phổi giảm, áp lực tim phải giảm, làm cho dần dần thất phải giảm kích thước buồng tim và thành tim.Sau khi ống động mạch và lỗ bầu dục không còn luông thông thì cung lượng tim chính là cung lượng thất trái và cũng vẫn là cung lượng thất phải.Những thay đổi ở các nhánh động mạch phổi: Khẩu kính nhánh động mạch phổi thai nhi thường nhỏ, nên có thể nghe thấy một tiếng thổi ở đáy tim do sự chênh lệch áp lực giữa thân và các nhánh động mạch phổi, sau khoảng 2 tháng, các dấu hiệu này mất đi.
Thay đổi của máu và quá trình tuần hoànNhững thay đổi giải phẫu tim và mạch sau khi sinh dẫn đến sự biến đổi tuần hoàn:Chu trình tuần hoànĐã thực sự khép kín, chỉ có một vòng tuần hoàn thống nhất nhưng được phân chia tương đối thành tuàn hoàn phổi và tuần hoàn hệ thống, giống như người trưởng thành.
Cung lượng timNgay trong vài giờ đầu, vẫn còn một luồng thông trái phải hoặc luồng thông 2 chiều, bắt đầu sau 24 giờ, cung lượng phổi tăng lên và cung lượng tim trái và tim phải gần như nhau:Qp = 3,48 ± 0,27 l/phút/m2 da, Qs = 3,54 ± 0,20 l/phút/m2 da, trong đó Qp là cung lượng tuần hoàn phổi, còn Qs là cung lượng tuần hoàn hệ thống.Sự thay đổi huyết động của các tâm thất.ở thai nhi, hai tâm thất cùng tống máu vào tuần hoàn hệ thống, áp lực được xác định trong từng buồng thất, trọng lượng thất phải gần bằng thất trái, thành thất phải dày hơn thất trái. Sau khi sinh,  áp lực động mạch tăng dần, sức cản mạch phổi giảm, áp lực thất phải giảm, bề dày thành thất phải giảm và trọng lượng thất phải cũng giảm, đồng thời tăng bề dày và tăng khối lượng cơ thất trái vào tháng thứ 3, từ đó sự khác nhau giữa KLC TP và KLCTT gần như người trưởng thànhMột số thay đổi về khí máu:

Sự mất hẳn tuần hoàn rau thai kéo theo ngay trong 2 phút đầu đời sống ngoài người mẹ, giảm ô xi huyết P02 = 20 mmHg, tăng PC02 = 45 – 50 mmHg, nhiễm toan máu. Sau đẻ khoảng 50 phút, P02 đạt 70 – 75 mmHg, sau đó tăng dần gần giống người trưởng thành.

Tác giả bài viết

TS ĐỖ HOÀNG DƯƠNG

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *