Home / Đông y & Đông dược / Góp phần nghiên cứu thành phần hoá học của cây lược vàng (phần 1)

Góp phần nghiên cứu thành phần hoá học của cây lược vàng (phần 1)


Chủ nhiệm: Bs. Hoàng Sầm, cùng các cộng sự thuộc khoa hoá trường đại học sư phạm Thái nguyên: Hứa Văn Thao, Phạm Văn Khang, Nguyễn Anh Tuấn ( nghiên cứu được chia ra làm 2 phần để quý vị tiện theo dõi)

cay luoc vang

– Phần 1: Lời mở đầu + Tổng quan các chất có hoạt tính sinh học trong thực vật

– Phần 2: Vật liệu và thực nghiệm + Kết quả định lượng một số loại nhóm chất

1. Lời mở đầu

Trong khoảng 10 năm gần đây người dân Thanh hoá có trồng cây lược vàng do 1 thương nhân chuyển từ Nga về. Cây thuốc nam này vốn có họ thài lài, tên khoa học Callificia Frangrans, họ Commelinaceae . Đã có tài liệu nghiên cứu về thành phần hoá học, độc tính của vị thuốc này từ các nhà khoa học Anh, Mỹ, Nga. Tại Nga đã có những thương phẩm dạng giọt dạng viên từ dịch chiết cây lược vàng. Để có cơ sở nghiên cứu về tác dụng, độ an toàn, liều tối thiểu tác dụng, liều tối đa an toàn nhóm nghiên cứu hướng tới trước hết thành phần hoá học của cây lược vàng ở phân mức tìm hiểu nhóm hoạt chất chứa trong cây.

2. Tổng quan về các chất có hoạt tính sinh học trong thực vật

           2.1. Ancaloid

Ancaloid là một hợp chất hữu cơ có cấu tạo phức tạp mà mỗi phân tử của nó đều chứa ít nhất một nguyên tử nitơ dưới dạng dị vòng. Do đó, nó là nhóm các hợp chất không thuần khiết về mặt hoá học. Hiện nay, người ta đã tìm được khoảng gần 6000 ancaloid và chủ yếu là các chất ít tan trong nước nhưng dễ tan trong các dung môi hữu cơ, nhiều chất có hoạt tính sinh học cao như:

 

Ancaloid có tác dụng sinh lý đối với cơ thể sống của con người và động vật theo chiều hướng tích cực lẫn tiêu cực. Để nghiên cứu định tính ancaloid, người ta thường dùng các phương pháp sau: Phản ứng Wagner, phản ứng nhận biết với thuốc thử dragendooc, phản ứng với dung dịch acid pyric

Các phương pháp chiết suất ancaloid bằng dung môi thường dùng hiện nay: Chiết bằng dung môi hữu cơ, chiết bằng dung dịch nước acid, cồn

            2.2. Flavonoid

Flavonoid là dẫn xuất của phenol có hầu hết ở người, động thực vật và vi sinhvật do đưa trực tiếp vào từ nguồn thức ăn. Bản thân con người không có khả năng tự tổng hợp được phenol. Flavonoid tham gia vào tất cả các quá trình trao đổi chất, sinh tổng hợp và quá trình enzym. Về mặt cấu tạo, flavonoid là các polyphenol có tính acid, đính nhóm hydroxy tự do ở các vòng.

 Trong thực vật, flavonoid tồn tại chủ yếu ở hai dạng: dạng tự do (aglycol) và dạng liên kết với glucid (glycosid). Trong đó, dạng aglycol thưòng tan trong các dung môi hữu cơ như ete, aceton, cồn nhưng hầu như không tan trong nước, còn dạng glycosid thì tan trong nước nhưng không tan trong các dung môi không phân cực như aceton, benzen, cloroform. 

         Hoạt tính sinh học của flavonoid: Có tác dụng với khối u và một số dạng ung thư như enpatin (3,5,3′-trihydroxy-6,7,4′-trimetoxyflavon), enpatoretin (3,3′-dihydroxy -5,6,7,4′-tetrametoxyflavon); Nâng cao tính bền của thành mạch máu như rutin; Có tác dụng estrogen như glycosid quecxetin và kaempferol- 3-3-ramnogalacto-7-ramnorid. Ngoài các tác dụng trên, flavonoid còn có các tác dụng khác như: chống dị ứng, chống co giật, giãn phế quản, giãn mạch, lợi mật, giảm đau và có tác dụng diệt nấm… Một số dẫn chất của flavonoid có tác dụng thông tiểu như quercetin (có trong lá diếp cá), kháng khuẩn như acvicularin. Đặc biệt, flavonoid còn có hoạt tính vitamin P, làm bền những mao mạch và giảm tính giòn của thành mạch.                                                                                  

         Các kết quả nghiên cứu khoa học đã kết luận rằng: tác dụng sinh học của flavonoid là do khả năng chống oxy hoá của chúng quy định. Do khả năng ức chế quá trình oxy hoá nênchúng có hiệu ứng chống u lành tính và u ác tính. Các flavonoid còn được ứng dụng rộng rãi để điều trị các bệnh nhiễm trùng như chống viêm loét dạ dày, viêm mật cấp tính và mãn tính, viêm gan, thận, thương hàn, lị…

         2.3. Glycosid trợ tim

          Glycosid trợ tim là một nhóm glycosid có cấu trúc steroid, có tác dụng đặc hiệu đối với bệnh tim nhưng với liều cao chúng là các chất gây độc.  Trong cây, chúng tồn tại ở dạng glycosid hoà tan trong các dịch tế bào. Dưới tác dụng của enzym hay acid loãng, các glycosid bị thuỷ phân tạo thành các genin và các ose. Là glycosid nên chúng tan nhiều trong nước và cồn loãng, ít tan trong các dung môi không phân cực như ete, dầu, benzen…

          Tác dụng của glycosid tim làm tăng sức co bóp của cơ tim cả ở người lành lẫn người bệnh; làm tăng trương lực cơ tim: làm ngắn chiều dài của các sợi cơ tim đã bị căng, giãn do vậy làm tăng trương lực cơ tim, giảm thể tích và kích thước tim; làm chậm nhịp tim: do vừa có tác dụng trên dây thần kinh phế vị, vừa làm giảm tính tự động của nút xoang; làm giảm dẫn truyền trong nhĩ, đặc biệt nút nhĩ thất; làm giảm tính kích thích của cơ tâm nhĩ, nhưng trái lại, làm tăng tính kích thích của cơ tâm thất; gây lợi tiểu nhẹ do giảm tái hấp thu natri ở ống lượn gần.

            2.4. Coumarin

 Coumarin là nhóm hợp chất tự nhiên, được xem là dẫn xuất lacton củab axit octo-hydroxy xinamic. Đến nay đã xác định được khoảng 600 chất và coumarin tồn tại trong cây chủ yếu  dưới dạng tự do. Ví dụ như:

 Coumarin được dùng để làm thuốc chống đông máu. Ngoài ra một số coumarin có tác dụng làm giãn động mạch vành [1], [2] và mạch ngoại vi. Đồng thời có tác dụng chống co thắt. Một số chất có tác dụng ức chế sinh trưởng thực vật, tác dụng kháng khuẩn, diệt nấm, chống viêm…

  2.5. Terpenoid

           Terpenoid là nhóm chất hữu cơ thiên nhiên không no có công thức chung là (izo-C5H8)n (n>=2).  Ngoài các hydrocacbon không no, các dẫn xuất của chúng như ancol, andehyd, ceton, cacboxylic acid cũng được gọi là tecpen. Tuỳ theo số nguyên tử cacbon trong mạch hydrocacbon, người ta phân chúng thành các nhóm: monoterpen, secpuiterpen, diterpen, triterpen, tetraterpen, polyterpen. Trong đó monoterpen là quan trọng nhất trong terpenoid. Nó có cấu trúc mạch hở, mạch vòng.

Các terpenoid có chứa nhiều trong thực vật như secpuiterpen, diterpen và triterpen có chứa trong tinh dầu, nhựa của thực vật bậc cao, polyterpen là thành phần chính của các cao su tự nhiên.Chính vì do dặc điểm cấu tạo của chúng nên các terpenoid có tác dụng làm thông mạch và làm tăng độ đàn hồi của cơ tim và thành mạch.

2.6. Steroid

       Là những hợp chất thiên nhiên có bộ khung cacbon stenan gồm bốn vòng ngưng tụ với nhau, chứa các mạch bên và các nhóm chức khác nhau như: CO, -CHO, -COOH, -OH. Steroid tồn tại trong động , thực vật dưới dạng glycosid hoặc liên kết với các cacbon acid amin.

       Các steroid tham gia vào các quá trình sinh học trong cơ thể sống. Cho đến nay, người ta đã biết đến hàng chục nghìn sterod và trong số đó có hàng trăm chất được sử dụng trong y học. Một số chất tiêu biểu:

        2.7. Saponin

    Saponin được dùng để chỉ nhóm glycosid có đặc tính chung là khi hoà tan vào nước sẽ có tác dụng làm giảm sức căng bề mặt của dung dịch và tạo bọt. Dưới tác dụng của các enzym thực vật, vi khuẩn, hoặc acid loãng, saponin bị thuỷ phân thành genin (gọi là sapogenin) và phần glucid.

        Phần glusid gồm các ose phổ biến là D-glucose, D-galactose, L-mannose và L-arabinose. Phần sapogenin gồm hai nhóm lớn là saponin triterpen và saponin steroid. Trong đó, saponin steroid phânbố tập trung ở cây một lá mầm còn saponin triterpen phân bố rộng nhưng tập trung chủ yếu ở cây hai lá mầm. Về mặt hoạt tính sinh học, saponin cung cấp nhiều loại thuốc quan trọng với một số tác dụng chính như sau: Tác dụng bổ, tăng cường sinh lực (saponin có trong họ nhân sâm); Tác dụng long đờm, dịu ho (có trong cam thảo, viễn chí); Giảm đau nhức khớp xương (có trong ngưu tất, cỏ xước), hạ cholesterol trong máu.

xem tiếp:  phần 2 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *