Menu
Trắng bền Saman

Trắng bền Saman

Trước đây, đối với những người bị nám da, sạm da, da đen do...

Cardorido Saman

Cardorido Saman

Cardorido SAMAN được bào chế từ củ cây Riềng đỏ Canna sp và rễ cây Đan...

Khởi dương Saman

Khởi dương Saman

  Khởi dương Saman được chiết xuất từ những thảo dược quý trong thiên nhiên...

Thuốc xoa bóp Saman

Thuốc xoa bóp Saman

Thuốc xoa bóp Saman Pharm được bào chế từ các vị thuốc quý trong...

AZ57 Saman

AZ57 Saman

AZ57 là sản phẩm được các nhà khoa học thuộc Cơ sở SXKD thuốc...

Gallstone Saman

Gallstone Saman

Sỏi mật là 1 bệnh lý phổ biến ở người tuổi trung niên có...

VĐT Saman

VĐT Saman

  VĐT SAMAN là sản phẩm điều trị viêm đại tràng mạn tính thể phân...

TKS Saman

TKS Saman

TKS Saman là sản phẩm thảo dược được các nhà khoa học Saman Pharm nghiên...

Prev Next

Bệnh vẩy nến

Psoriasis Guttate 108

I. Đại cương

Vẩy nến là một bệnh da mạn tính thường gặp do viêm và chưa thể chữa khỏi hoàn toàn. Tỷ lệ bệnh chiếm 2-3% dân số thế giới, 5% dân số châu Âu, 2% dân số châu Á và châu Phi, xấp xỉ 10% tổng số các bệnh nhân đến khám ở các phòng khám  Da liễu. Nam gặp nhiều hơn nữ, người lớn nhiều hơn trẻ em.

Bệnh phát thành từng đợt, có khi tăng giảm theo mùa.Những năm gần đây, số người mắc bệnh vảy nến ngày một gia tăng. Đây là một bệnh lành tính, thường không ảnh hưởng đến sức khỏe nhưng ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm sinh lý và chất lượng cuộc sống của người bệnh.

vay nen 1(Vẩy nến ở lưng)

 Bệnh vảy nến có thương tổn đặc trưng là mảng da màu đỏ, giới hạn rõ, bề mặt có vảy trắng, dễ tróc, thường xuất hiện ở da đầu, đầu gối, cùi chỏ và thân mình. Ngoài ra thương tổn cũng có thể xuất hiện ở bất cứ vị trí nào của cơ thể như móng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, vùng sinh dục và mặt...

Hiện nay, có rất nhiều phương pháp điều trị nhưng bệnh thường kháng trị hoặc dễ tái phát sau khi ngưng sử dụng thuốc. Các thuốc điều trị vẩy nến hệ thống trước đây như methotrexate, cyclosporin và retinoids có nhiều độc tính và tác không mong muốn nên người thầy thuốc cần phải theo dõi sát những bệnh nhân sử dụng các thuốc này. Nguyên nhân của vẩy nến hiện nay được chứng minh có liên quan đến đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào và dấu ấn của cytokine.Theo y văn Bệnh vẩy nến là một bệnh miễn dịch qua trung gian tế bào ảnh hưởng đến da. Nó xảy ra khi hệ thống miễn dịch sai lầm vì thế các tế bào da như một tác nhân gây bệnh, và đã gửi ra tín hiệu bị lỗi đó gây ra sản xuất quá mức các tế bào da mới. Do đó các thuốc điều chỉnh miễn dịch chọn lọc với độc tính ít hơn được xem như một thế hệ trị liệu mới trong việc kiểm soát và chữa lành vẩy nến.

Bệnh vẩy nến không lây nhiễm. Bệnh không nguy hiểm đến tính mạng  Tuy nhiên, bệnh vẩy nến có liên quan đến tăng nguy cơ đột quỵ, và điều trị lipid trong máu cao có thể dẫn đến cải thiện tình trạng bệnh. Có năm loại bệnh vẩy nến:. Mảng bám, guttate, nghịch đảo , mụn mủ, và erythrodermic. Dạng phổ biến nhất, mảng bám bệnh vẩy nến, thường được xem là sắc màu đỏ và trắng của các bản vá lỗi có vảy xuất hiện trên các lớp đầu tiên trên cùng của lớp biểu bì da. , Tuy nhiên, một số bệnh nhân không có dấu hiệu hoặc triệu chứng về da. Tên bệnh vẩy nến là từ tiếng Hy Lạp, có nghĩa là "tình trạng ngứa".

II. Nguyên nhân

Vẩy nến là do rối loạn biệt hóa lành tính của tế bào thượng bì. Cho đến nay vẫn chưa khẳng định rõ ràng nguyên nhân. Nhưng người ta biết chắc chắn có 2 yếu tố sau đây làm nên cơ chế sinh bệnh:

Yếu tố di truyền:

Khoảng 30% bệnh nhân có yếu tố gia đình (cha, mẹ, anh chị em ruột hoặc họ hàng trực hệ); 70% các cặp song sinh cùng mắc. Các nghiên cứu chỉ ra các kháng nguyên HLAW6, B13, B17, DR7 liên quan đến vẩy nến da và khớp. Có hai kiểu bệnh rõ ràng trong vẩy nến: kiểu khởi phát sớm và kiểu khởi phát muộn. Vẩy nến khởi phát sớm thường gặp ở độ tuổi 16-22. Loại này có diễn tiến bất ổn và khuynh hướng lan rộng toàn thân. Loại này có liên quan mạnh đến tính di truyền. Trái lại, vẩy nến khởi phát muộn thường gặp ở độ tuổi 57-60. Loại này thường nhẹ và khu trú. Loại này thường ít có liên quan mạnh với tính di truyền như loại khởi phát sớm.

Yếu tố ngoại sinh:

Nhiều yếu tố môi trường cũng góp phần trong sinh bệnh học của vẩy nến. Các yếu tố ngoại sinh như chấn thương, stress, bỏng nắng, phẫu thuật, thuốc và nhiễm trùng làm khởi phát bệnh ở những người có sẵn yếu tố di truyền tiềm tàng. Các yếu tố này còn làm bệnh nặng thêm hoặc tái phát nặng nề.

Dựa vào 2 yếu tố trên người ta chia bệnh vẩy nến thành 2 tip:

- Vảy nến típ 1 có di truyền

- Vảy nến típ 2 không di truyền

III. Sinh bệnh học miễn dịch của vẩy nến

Sinh bệnh học bệnh vảy nến đến nay vẫn chưa sáng tỏ hoàn toàn. Nhưng đến nay đa số tác giả cho rằng bệnh vảy nến là một bệnh có cơ chế tự miễn. Bệnh tự miến là rối loạn hệ miễn dịch làm cho sự nhận biết “ta hay không phải ta” không bình thường và cơ thể tạo kháng thể chống lại ngay chính tế bào, tổ chức, cơ quan của bản thân mình và gây nên những bệnh cảnh lâm sàng tương ứng với tế bào, tổ chức cơ quan bị tổn thương.

Người ta chia ra 2 loại bệnh tự miễn dịch: Bệnh tự miễn dịch đặc hiệu cơ quan (bệnh có kháng thể đặc hiệu chống lại thành phần chính của bệnh: bạch biến có kháng thể chống tế bào melanocyte…) và bệnh tự miễn dịch không đặc hiệu cơ quan (người bệnh có tổn thương nhiều cơ quan tổ chức do tụ sinh ra nhiều kháng thể chống lại cơ quan tổ chức đó: lupus ban đỏ hệ thống có nhiều kháng thể chống nhiều cơ quan, nên bệnh này gây tổn thương nhiều cơ quan nội tạng: gan, thận, thần kinh, da….).

Vẩy nến được xem như một tình trạng tăng sinh quá mức của các keratinocyte ở thượng bì dưới sự kích thích của các lymphocyte ở bì. Cơ chế chính xác và dây chuyền tương tác giữa các keratinocyte và các tế bào miễn dịch vẫn chưa được hiểu một cách đầy đủ. Tuy nhiên, nhiều bằng chứng cho thấy các tế bào T hoạt hóa là những chất điều chỉnh miễn dịch chủ yếu trong sinh bệnh học của vẩy nến.

Thoạt đầu, các tế bào T hoạt hóa xâm nhập vào lớp bì ở vùng da tổn thương nhờ các phân tử kết dính tế bào và cytokine tiền viêm interleukin-8 (IL-8). Đa số tế bào T ở thượng bì là loại CD4+helper (Th CD4). Các tế bào ThCD4  bị kích hoạt bởi các tế bào nhận diện kháng nguyên. Quá trình này sản xuất ra nhiều loại cytokine. Các tế bào ThCD4 sản xuất IL-2 và interferon-y (INE-y) được gọi là tế bào Th1 và miễn dịch trung gian tế bào. Ngược lại, các tế bào T sản xuất IL-4, IL-5 và IL-10 được gọi là các thế bào Th2 và góp phần trong miễn dịch cơ thể. Các cytokime Th1 là những chất tiền viêm, còn các cytokine Th2 là những chất chống viêm. Trong vẩy nến, loại Th1 chiếm ưu thế còn Th2 ít hơn.

vay nen 2

H1: Sự kết dính và xâm nhập của tế bào T vào bì và thượng bì. Sự xâm nhập của các tế bào T ở da vào vùng viêm là một  yếu tố quan trọng của đáp ứng miễn dịch. Khi tế bào T "lăn" dọc theo tế bào nội mô mạch máu, quá trình diễn ra chậm chạp theo dòng máu do sự tương tác giữa LFA-1 trên bề mặt tế bào T và ICAM-1  trên bề mặt tế bào nội mô. Quá trình này làm gia tăng sự tiếp xúc của tế bào T và các cytokine được tiết ra bởi tế bào nội mô do các kích thích viêm. Kết quả là LFA-1 tăng ái tính với ICAM-1, có lẽ do sự  thay đổi cấu trúc LFA-1, tế bào gắn kết dạp ra  và đi xuyên qua biểu mô vào mô xung quanh. Khi tế bào T ra khỏi tiểu tĩnh mạch, chúng phản ứng với các cytokine bằng cách lôi kéo các cytokine về vùng viêm ở bì và từ đó vào thượng bì. Nguồn Pariser, D.M - 2003

 IV. Vấn đề  điều trị hiện nay

 Với vẩy nến típ 2: Bệnh vảy nến có các yếu tố khởi động gây khởi phát hoặc tái phát bệnh rất rõ rệt như yếu tố stress, nhiếm khuẩn Tai-Mũi-Họng, chấn thương da, một số thuốc, thức ăn… Nhiệm vụ của bệnh nhân và thầy thuốc phải xác định được yếu tố khởi động chính trên từng bệnh nhân cụ thể để có biện pháp ngăn chặn yếu tố khởi động đó để điều trị có hiệu quả. Ví dụ: bệnh nhân có yếu tố tâm lý cần được giải thích để bệnh nhân hiểu và có điều chỉnh trong tâm lý và công việc, giải thích cho bệnh nhân cần tránh thậm chí thay đổi cách sinh hoạt cho phù hợp với bệnh tật…

Điều trị bệnh vẩy nến theo cơ chế bệnh sinh hiện nay là:

- Ngăn cản sự xâm nhập của các tế bào T hoạt hóa từ tế bào nội mô vào thượng bì và bì;

- Ngăn cản quá trình sản xuất cytokine Th1.

- Trực tiếp kháng lại các đáp ứng của cytokine Th1.

Điều trị tại chỗ thường được sử dụng trong vẩy nến mức độ nhẹ và trung bình. Vẩy nến mức độ trung bình và nặng có thể phải sử dụng quang trị liệu hoặc thuốc hệ thống. Thế hệ điều trị mới tập trung chủ yếu vào các mục tiêu chuyên biệt trong phản ứng miễn dịch qua trung gian tế bào.

Vẩy nến là một bệnh do phản ứng miễn dịch gây viêm. Các thuốc ức chế miễn dịch hiện nay có hiệu quả trong việc kiểm soát vẩy nến đến một mức độ nhất định nhưng cũng còn nhiều bất lợi như độc tính cao và dễ tái phát khi ngưng điều trị và còn những tác dụng không mong muốn nghiêm trọng như độc gan, độc thận và ức chế tủy.

Vẩy nến hiện nay vẫn chưa thể chữa khỏi hoàn toàn mà chỉ làm giảm, sạch thương tổn và kéo dài thời gian tái phát. Có nhiều phương pháp điều trị và dựa vào tuổi, phái, dạng lâm sàng, vị trí tổn thương cũng như sự lan tỏa của bệnh. Vì vậy bệnh vảy nến còn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục được nghiên cứu đặc biệt về sinh bệnh học. Do vậy, hàng năm trên thế giới có hàng trăm đề tài nghiên cứu về các lĩnh vực khác nhau trong đó có cả nghiên cứu các sản phẩm thuốc điều trị và hỗ trợ điều trị.

Ở Việt Nam từ trước đến nay dân ta đã dùng điều trị vẩy nến bằng thảo dược tuy nhiên chưa có những nghiên cứu dài hơi trên thực nghiệm và ứng dụng trên lâm sàng để đạt được những kết quả mong muốn. Hiện tại các cây thuốc, bài thuốc trong dân gian lưu truyền chữa vẩy nến chưa được tập hợp phân tích và ứng dụng. Vấn đề đặt ra cho các nhà khoa học là: thảo dược có chữa khỏi hoặc là giảm các triệu chứng của vẩy nến không?. Nếu thảo dược can thiệp được vào quá trình sinh bệnh của vẩy nến ít nhất là vào vẩy nến típ 2 cũng đã rất tốt rồi. Thế giới đang quay về dùng sản phẩm từ thảo dược để chữa bệnh thiết tưởng  các nhà khoa học Việt Nam có thể nhanh chóng đi sâu vào hướng nghiên cứu này vì ở Việt Nam ta rừng nhiệt đới vô cùng phong phú thảo dược quý hiếm. Được biết hiện nay Viện Y Học bản Địa Việt Nam đã và đang xúc tiến nghiên cứu điều trị vảy nến từ thảo dược.

Ths Bs Lâm Văn Tiên

Nghiên cứu viên Bộ phận nghiên cứu khoa học Saman Pharm

Biên soạn

Thêm ý kiến


Chuyên mục

Chuyên nghành

Thành quả nghiên cứu

Liên hệ