Home / Nghiên cứu khoa học / Lá Ngón Hà Giang, hiểu biết và tham khảo cách sơ cứu

Lá Ngón Hà Giang, hiểu biết và tham khảo cách sơ cứu

dsc00103

Lá Ngón ở Tả Phìn Hồ

Hà Giang là tỉnh miền núi phía bắc, phân bố nhiều cây thuốc quý nhưng cũng có cả những cây thuốc rất độc như cà vú, hoàng nàn, cây cơi, cây sui… nhưng độc nhất vô nhị trong hàng thảo dược thì phải kể tới lá Ngón. Cây thuốc Lá Ngón có danh pháp 2 phần là: Gelsemium elegans. Benth. Lá Ngón hiện diện ở Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ, Miền núi Bắc Quang, Hoàng Su Phì, Xín Mần, Quang Bình, Vị Xuyên tuy có nhưng ít hơn.  Riêng ở Tả Phìn Hồ 3, Xã Tân thành, Huyện Bắc Quang có thể thu cả tấn cây thuốc này.

Lá Ngón là cây thuốc chữa bệnh, nhưng do độc tính cao nên hầu như không thầy thuốc nào dám sử dụng. Liều tối thiểu tác dụng, liều trung bình và liều tối đa an toàn chưa được nghiên cứu, đánh giá kỹ bằng các thực nghiệm đáng tin cậy. Hơn nữa, truyền thống lâu đời hằng trăm năm nay, luôn cho lá Ngón là loài cây nguy hiểm, chỉ có hại, không có lợi, chỉ dùng để đầu độc nhau hoặc tự tử nên họ luôn tránh xa cây thuốc này. Về khả năng giảm đau, Lá Ngón không thua gì Móc Phin (C17H19NO3) là 1 trong 25 ancaloid từ cây thuốc phiện, ưu điểm của Lá Ngón là dùng liều rất thấp và không gây nghiện.

Với nồng độ khoảng 0,5% các chất ancaloid gelsemine, gelsemicine, gelsedine, methoxyindoles, Koumine … chỉ với liều tính bằng mg đã có thể chết người, cho nên theo nguyên tắc vi lượng đồng căn khi dùng Lá Ngón chữa bệnh việc định liều thường dùng đơn vị Microgram (µmg).

Việc sử dụng lá Ngón làm thuốc có từ bao giờ?

Cuối năm 1906, được sự khuyến cáo từ các Bác sỹ, các dược sỹ phương tây đã ra đời chế phẩm đầu tiên từ thân rễ và rễ con của cây Lá Ngón, G. sempervirens để chống viêm da mặt, làm trắng da và các chứng đau dây thần kinh, đau cháy dây V, trầm cảm, sốt rét, các chứng co thắt và bôi chữa cận thị độ I, II, III; vảy nến, động kinh…. Những năm gần đây, nhất là từ 2012 những nghiên cứu sâu hơn về tế bào cho thấy cây thuốc này có thể được sử dụng như một thuốc hóa trị liệu trong ung thư phổi, ung thư tử cung, ung thư buồng trứng, ung thư vú…

Bản thân (Hoàng Sầm) những lúc, những thời gian công việc căng thẳng vẫn dùng với liều rất nhỏ, vài giọt dung dịch loãng, dạng chiết Ethanol, hiệu quả giảm đau, ngủ sâu giấc, tỉnh dậy minh mẫn, hứng khởi trong công việc là rõ.

Biểu hiện ngộ độc Lá Ngón: Việt Nam có một nghiên cứu về lá ngón tại khoa sinh đại học Đà lạt: giã 10gram lá ngón với 10 ml nước, cho chuột uống 3 giọt sau 9 phút chuột chết vì co giật. Như vậy với Việt Nam đây là đề tài còn mới. Có thể tóm tắt biểu hiện ngộ độc như sau: Đau bụng, buồn nôn, khó chịu, mệt mỏi, bí đái; Yếu mệt cơ tay chân hoặc nặng liệt cơ; giãn đồng tử; sụp mi và liệt cơ hàm dưới, rơi hàm dưới; thở yếu, chậm, suy hô hấp, nhịp tim chậm, huyết áp tụt, đến ngừng tim; co giật, tử vong do liệt cơ, suy hô hấp và ngừng tuần hoàn.

Xét nghiệm: cần tìm ra một test đặc hiệu cho chẩn đoán xác định, tuy nhiên hiện chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này. Với các thiết bị hiện có chắc chắn có thể nghiên cứu test chẩn đoán nhanh cho vấn đề này.
Cơ chế ngộ độc của lá ngón: Các alkalloid của lá ngón là chất đồng vận của glycine Re: ức chế kênh Clo dẫn tới mất hoạt động điện tế bào. Theo Cueilleron và cs “Ở liều cao, các alkaloid của lá ngón ức chế tái hấp thu dopamin, noradrenallin và serotonin tại xynap”.

Ngộ độc muộn nhất là dê và ngỗng, không rõ dê và ngỗng ăn cỏ gì hay máu có chất kháng độc gì. Chỉ biết người Mẹo khu tự trị Choang biết sử dụng máu dê và máu ngỗng cho uống nóng để chống độc lá Ngón từ lâu đời và hiệu quả – Thông tin quan trọng này được ghi nhận ở sách Trung dược đại từ điển.

Điều thú vị nhất là dê, lợn, trâu, bò, cừu dường như có chất bất hoạt, hạn chế các chất độc của lá ngón. Các thực nghiệm cho dê, lợn, trâu, bò đặc biệt là lợn ăn lá ngón liều thấp thấy tăng nạc và tăng cân nhanh hơn lợn không cho ăn lá ngón.

Tại Việt Nam, tỉnh Điện Biên có tỷ lệ người tử vong bởi Lá Ngón rất cao, riêng một huyện Điện Biên Đông, 8 tháng đầu năm 2016 đã có 73 ca tự vẫn bằng lá ngón, trong đó không cứu được là 29 ca; Quảng Ngãi, Đắc Nông, Lâm Đồng … cũng trong tình trạng trên. Mật ong vùng nhiều lá ngón như Tả phìn hồ luôn phải thận trọng, đã thấy y văn nêu những trường hợp chết do mật ong lá ngón ở nước Anh.

Có thực sự Lá ngón có tác dụng chữa bệnh ung thư?

Theo South China Morning Post, các nhà khoa học Trung Quốc phát hiện 9 loại hợp chất mới có trong lá ngón. Chỉ một lượng nhỏ các hợp chất đã có thể tiêu diệt các tế bào ung thư bạch cầu, ung thư vú, gan, phổi và đại tràng.

Giáo sư Xu Youkai, cho biết lá ngón có thể trở thành một loại thảo dược an toàn, có lợi nếu được nhà nước cấp đủ kinh phí và tạo điều kiện nghiên cứu và phát triển.

Một nghiên cứu của Malaysia cũng cho thấy chi lá ngón tác dụng với ung thư buồng trứng của người và các dòng tế bào ung thư vú. Trên tế bào CaOV-3 của ung thư buồng trứng và Trên tế bào MDA-MB-231 của ung thư vú thấy đều tác dụng, nhưng với ung thư buồng trứng là hiệu quả hơn.

Ngày 03 tháng 6 năm 2015, các tác giả Viện khoa học hàn lâm Trung Quốc công bố: Chín alkaloids mới của koumine (1-4), humantenine (5-7), và yohimbane (8, 9) cũng như 12 tương tự phân lập từ lá và cành Lá ngón. Trong đó Hợp chất 1 và hợp chất 7 có khả năng diệt tế bào ung thư theo chương trình với năm dòng tế bào ung thư của con người với giá trị IC50 trong khoảng 4,6-9,3 mM.

Các tác giả Zhang X, Chen Y, Cao B, Luo D, Wen Y, Ma X thuộc Sở Phẫu thuật vú và tuyến giáp, Viện Nghiên cứu phẫu thuật, Bệnh viện Daping, Đại học Y Third Military, Trùng Khánh, Trung Quốc báo cáo: chất Koumine chiết từ lá ngón hoạt động chống tế bào ung thư vú người ủ nuôi trong điều kiện thí nghiệm là rõ so với đối chứng. Sau khi tiếp xúc tế bào ung thư 48h, các tế bào này có hiện tượng trúng độc và tự hủy, trong khi các tế bào lành hoàn toàn không bị ảnh hưởng.

Những cây có độc như Mã tiền, móc phine, dương địa hoàng, ô đầu … đã được khảo sát kỹ với nhiều nghiên cứu, do vậy chúng được dùng theo quy chế độc bảng A, an toàn. Giá mà cây lá ngón cũng được Bộ y tế nghiên cứu như vậy thì có thể thay cho hóa trị trong nhiều ung thư mà ta không mất quá nhiều ngoại tệ để nhập.

Các thực nghiệm cho biết liều gây chết tối thiểu của con chó là 0.05 – 0.10mg/kg thân trọng với đường tiêm tĩnh mạch; thỏ là 0.05-0.06mg/kg. Giải thiết rằng liều với chó giảm đi 10 lần để dùng với người thì ta có 0,005 – 0,010/kg thân trọng người. Giả thử mỗi người nặng 50 kg x 0,005 – 0,010 =  0,25mg – 0,5mg trong 24h.

Người ta đã sử dụng phương pháp vi lượng đồng căn, pha loãng nhiều lần dung dịch chiết lá ngón với cồn 33% , mức độ loãng có thể tới 1000 lần, sau đó sử dụng chống trầm cảm thấy có hiệu quả.

Điều đáng buồn là phòng ngừa bằng tuyên truyền của cán bộ y tế không những không tác dụng mà dường như có hậu quả ngược lại. Sau một đợt tuyên truyền mạnh mẽ ở Điện Biên, số người uống lá ngón tự tử tăng đột biến. Có lẽ xây dựng cho vùng nhạy cảm một nhân sinh quan có tâm thế tâm lý hướng thiện, chấp nhận cuộc sống như phật học khuyên dạy hơn là giới thiệu cho họ cây Lá Ngón.

Mấu chốt của sơ cứu ngộ độc lá ngón là phát hiện sớm, nếu ≤ 120 phút, cho uống ngay mùn thớt hoặc phân lợn hoặc dùng lông gà, vịt ngoáy họng gây nôn. Cho uống nhiều nước và gây nôn nhiều lần. Sau đó uống than củi nghiền bột hoặc uống 100 – 200 ml dung dịch thuốc tím 4%, chuyển bệnh viện càng sớm càng tốt. Cũng có kinh nghiệm cho uống 2 lần tiết dê tươi nóng, mỗi lần chừng 200ml. Kinh nghiệm của tỉnh Lâm Đồng là dùng khoảng 1-2 lạng rau má giã lấy nước uống. Mới đây nhất, qua hiểu biết về chất chủ vận và đối với của Koumine với Glycine Re với hệ receptor tương ứng, người ta dùng thêm hạt mã tiền ở liều thông thường hoặc 2 ống Stricnin sunphat mỗi ngày. Riêng tôi, tôi cho rằng có thể dùng 4-6 ống/ngày.

Bác sỹ Hoàng Sầm

Tả Phìn Hồ, Hà Giang

 

Tài liệu tham khảo

  1. Schun Y, Cordell GA. Cytotoxic steroids of Gelsemium sempervirens. J Nat Prod. 1987; 50 :195–198. doi: 10.1021/np50050a012. [ PubMed ] [ Cross Ref ]
  2. Dutt V, Thakur S, Dhar VJ, Sharma A. The genus Gelsemium: an update. Pharmacogn Rev. 2010; 4:185–194. doi: 10.4103/0973-7847.70916. [ PMC free article ] [ PubMed ] [ Cross Ref ]
  3. Jin GL, Su YP, Liu M, Xu Y, Yang J, Liao KJ, Yu CX. Medicinal plants of the genus Gelsemium (Gelsemiaceae, Gentianales)-a review of their phytochemistry, pharmacology, toxicology and traditional use. J Ethnopharmacol. 2014. doi:10.1016/j.jep.2014.01.003. [ PubMed ]
  4. Valnet J. Phytothérapie. Paris: Maloine; 1992.
  5. Peredery O, Persinger MA. Herbal treatment following post-seizure induction in rat by lithium pilocarpine: Scutellaria lateriflora (Skullcap), Gelsemium sempervirens (Gelsemium) and Datura stramonium (Jimson Weed) may prevent development of spontaneous seizures. Phytother Res. 2004; 18 :700–705. doi: 10.1002/ptr.1511. [ PubMed ] [ Cross Ref ]
  6. Boericke W. Materia Medica with Repertory. Philadelphia: Boericke & Tafel, Inc; 1927.
  7. Binsard AM, Guillemain J, Platel A, Savini EC, Tetau M. Etude psycho-pharmacologique de dilutions homéopathiques de Gelsemium et d'Ignatia. Ann Homeop Fr. 1980; 22 :35–50.
  8. Guillemain J, Rousseau A, Dorfman P, Tetau M. Recherche en psychopharmacologie. Cah Biother.1989; 103 :53–66.
  9. Guermonprez M. Homéopathie, Principles – Clinique – Techniques. Paris: CEDH; Năm 2006.
  10. Bellavite P, Magnani P, Marzotto M, Conforti A. Assays of homeopathic remedies in rodent behavioural and psychopathological models. Homeopathy. 2009; 98 :208–227. doi: 10.1016/j.homp.2009.09.005. [ PubMed ] [ Cross Ref ]
  11. Gahlot K, Abid M, Sharma A. Pharmacological evaluation of Gelsemium sempervirens roots for CNS depressant activity. Int J Pharm Tech Res. 2012; 3 :693–697.
  12. Dutt V, Dhar VJ, Sharma A. Antianxiety activity of Gelsemium sempervirens. Pharm Biol. 2010; 48:1091–1096. doi: 10.3109/13880200903490521. [ PubMed ] [ Cross Ref ]
  13. 2008; 153:.. 154-161. doi:. 10,1016 / j.neuroscience.2008.02.009 [ PubMed ] [ Chữ thập Ref ]
  14.  A Modern Herbal | Gelsemium
  15.  Michael Cascio (2004).Structure and Function of the Glycine Receptor and Related Nicotinicoid Receptors. THE JOURNAL OF BIOLOGICAL CHEMISTRY. 279: 19383–19386,
  16.  The British Pharmacological Society (2009). Glycine receptors. Br J Pharmacol. 158(Suppl 1): S117–S118
  17.  Dani JA, Bertrand DAnnu. Nicotinic acetylcholine receptors and nicotinic cholinergic mechanisms of the central nervous system. Rev Pharmacol Toxicol. 2007;47:699-729
  18.  Venard C, Boujedaini N, Mensah-Nyagan AG, Patte-Mensah C (2011). Comparative Analysis of Gelsemine and Gelsemium sempervirens Activity on Neurosteroid Allopregnanolone Formation in the Spinal Cord and Limbic System. Evid Based Complement Alternat Med. 407617
  19.  Liu M, Huang HH, Yang J, Su YP, Lin HW, Lin LQ, Liao WJ. (2012). The active alkaloids of Gelsemium elegans Benth are potent anxiolytic. Psychopharmacology 2012 Oct 5
  20.  Lynch JW (2009). Native glycine receptor subtypes and their physiological roles. Neuropharmacology.56(1):303-9.
  21.  Lai CK, Chan YW (2009). Confirmation of gelsemium poisoning by targeted analysis of toxic gelsemium alkaloids in urine. J Anal Toxicol. 33(1):56-61
  22.  Rujjanawate C, Kanjanapothi D, Panthong A (2003). Pharmacological effect and toxicity of alkaloids from Gelsemium elegans Benth.. J Ethnopharmacol. 89(1):91-5.
  23.  Cueilleron P, Fonlupt P, Pacheco H.(1982). Effect of Gelsemium tincture on dopamine, noradrenaline and serotonin uptake in synaptosomal preparations of rat brain. Comptes Rendus des Seances del’Academie des Sciences, Serie 2. 1982;294:853–5.
  24.  Dutt V, Thakur S, Dhar VJ, Sharma A (2010). The genus Gelsemium: an Update. Pharmacogn Rev, 4 (8): 185-94.
  25.  Thompson LJ, Frazier K, Stiver S, Styer E (2002). Multiple animal intoxications associated with Carolina jessamine (Gelsemium sempervirens) ingestions. Vet Hum Toxicol. Oct;44(5):272-3.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *