Phytoestrogen – sự thay thế của nội tiết tố nữ – Đông Y Việt Bắc
Home / Sản phụ & Tình dục / Phytoestrogen – sự thay thế của nội tiết tố nữ

Phytoestrogen – sự thay thế của nội tiết tố nữ

 Phytoestrogen là một nhóm đa dạng các hợp chất tự nhiên không steroid, có cấu trúc không gian giống như của hormone 17β- estradiol ( một trong những estrogen hoạt động mạnh nhất ) và có thể gắn vào các thụ thể của estradiol thể hiện tác dụng vừa như một estrogen vừa như một chất kháng estrogen. Trước hết, đây là các isoflavone (genistein, daidzein), coumestan (coumestrol),lignan (enterodiol, enterolactone) và một vài đại diện của các flavone, flavonol (kempferol), flavonone (naringenin), chalcone (naringenin-chalcone) và các lớp khác của các flavonoid.

 

 

 

 

   Một ví dụ cổ điển về sự ảnh hưởng nội tiết tố estrogen của các phytoestrogen lên các động vật có vú là “bệnh cỏ ba lá” – bệnh vô sinh ở cừu gây ra bởi các isoflavone chứa trong cỏ ba lá. (Liệu có giống AZ56 không)

 

Cơ chế tác động của phytoestrogen

   Nhờ có sự giống nhau nhất dịnh về cấu trúc hoá học và gần giống nhau về khối lượng phân tử với estrogen nội sinh của cơ thể người, các phytoestrogen có thể “nhận ra”các thụ thể của estrogen và gắn kết với chúng, khởi động các thác quá trình hoạt động sinh học. Nghĩa là, các phytoestrogen thể hiện ảnh hưởng của mình chủ yếu thông qua liên kết với các thụ thể estrogen (ER). Các thụ thể estrogen có hai biến thể là alpha (ER-α) và beta (ER-β), và nhiều phytoestrogen hiển thị ái lực cao hơn với ER-β so với ER-α.

   Ngoài ra, để tương tác với các thụ thể ER, các phytoestrogen có thể điều chỉnh nồng độ của estrogen nội sinh bằng cách liên kết hoặc bất hoạt một số enzyme, và có thể ảnh hưởng đến sinh khả dụng của hormone giới tính bằng cách liên kết hoặc kích thích sự tổng hợp globulin ràng buộc hormone giới tính (SHBG).

   Bằng chứng nổi trội cho thấy một số phytoestrogen hoạt hoá và ràng buộc với các thụ thể kích hoạt peroxisome proliferator (PPARs). Nghiên cứu in vitro cho thấy có sự kích hoạt PPARs ở nồng độ cao hơn 1µM, cao hơn mức kích hoạt ERs. Ở nồng độ thấp hơn 1µM, sự kích hoạt ERs có thể đóng một vai trò thống trị. Ở nồng độ cao hơn1µM, cả hai ERs và PPARs được kích hoạt. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, cả hai ERs và PPARs ảnh hưởng lẫn nhau và do đó gây ra những tác động khác nhau một cách phụ thuộc vào liều lượng phytoestrgen.

 

estrogen  phytoestrogen

  

     thụ thể       thụ thể

   Estrogen, cũng như những hormone khác, liên kết với các thụ thể theo nguyên tắc “chìa khoá – ổ khoá”, khi những chỗ lồi lõm trong cấu trúc không gian của các hormone tương ứng chính xác với “địa hình” của thụ thể. Khi gắn vào các thụ thể, estrogen kích thích phân chia tế bào. Trong trường hợp có khối u không triệu chứng, estrogen có thể khởi phát sự tăng trưởng khối u và là chất kích hoạt bệnh ung thư. Estrogen có thể gây ra hiện tượng phân bào nơi tuyến vú và dẫn đến ung thư vú. Ở những bệnh nhân béo phì, nồng độ estrogen cao cục bộ được tạo ra trong mô tuyến vú làm tăng nguy cơ phát triển ung thư. Vì thế tác dụng của một số thuốc được dùng cho trị liệu hoá học là nhằm hạn chế hiệu ứng của các estrogen thật lưu hành trong cơ thể.

   Khi gắn vào các thụ thể estrogen, phytoestrogen ngăn cản sự ảnh hưởng lên các tế bào từ phía estrogen thật có hoạt tính mạnh hơn. Như vậy các phytoestrogen giải quyết cùng một vấn đề như các nhân trị liệu hoá học, nhưng tác dụng của các phytoestrogen không kèm theo các phản ứng phụ không mong muốn như tác dụng của các tác nhân trị liệu hoá học nhằm thẳng vào các estrogen thật của cơ thể. Các phytoestrogen cũng ngăn chặn tác động của enzyme mô mỡ – aromatase trong việc chuyển đổi các androgen thành các estrogen:

                                         aromatase

           Testosterone   ───────────>   Estradiol

 

 

                                           aromatase                                          

                                         phytoestrogen

             Testosterone   ─────Χ──────>   Estradiol

 

 

   Những dữ liệu nghiên cứu dịch tễ học và các kết quả thực nghiệm trên các con chuột và các dòng tế bào cho thấy rằng, khác với các estrogen thật, các phytoestrogen không kích thích mà là ức chế sự tăng tưởng của các khối u phụ thuộc nội tiết tố.

   Phytoestrogen còn có tác dụng chống lại androgen. Trong da có chứa một số enzyme liên quan đến việc chuyển đổi hormone giới tính. Trong số này, ngoài aromatase đóng vai trò quan trọng thực hiện chuyển đổi các tiền chất androgen thành estrogen, 5-alpha- reductase là enzyme chuyển hoá hormone giới tính nam testosterone tuần hoàn trong máu thành DHT (đihydrotestosterone) có hoạt tính cao hơn. Biết rằng DHT gây teo dần các nang lông, dẫn đến làn tóc bị mỏng đi thành tóc lông tơ. Sự tăng hoạt động của 5-alpha- reductase trong da, và liên quan với điều này là nồng độ càng tăng của DHT, đóng một vai trò quan trọng trong sinh bệnh học của bệnh mụn trứng cá và tăng tiết bã nhờn, bởi vì DHT kích thích sản xuất bã nhờn ở da.

   Các estrogen thể hiện tác động phức hợp chống androgen. Đặc biệt, chúng ức chế 5-alpha- reductase. Các phytoestrogen lignan và isoflavone cũng có những tính chất này. Các isoflavone ekvol, genistein và cả sản phẩm trao đổi vi sinh của các lignan trong ruột – enterolactone ngăn chặn 5-alpha- redutase hiệu quả nhất. Vì các phytoestrogen không cho các tácdụng hormone phụ, chúng có thể được áp dụng thành công trong điều trị rụng tóc androgenic, mụn trứng cá, tăng tiết dầu bã nhờn:

                                   5-alpha-reductase                                                    Testosterone   ───────────>   DHT

 

                                      

                                      5-alpha-reductase

                                        phytoestrogen

         Testosterone   ──────Χ─────>   DHT

 

     Ở đàn ông, các isoflavone chặn enzyme 5-alpha-reductase, làm giảm mức DHT và ngăn ngừa phát triển u tuyến và ung thư tuyến tiền liệt.

     Genistein ức chế sự tăng trưởng các tế bào ung thư nhờ việc ngăn chặn sự phát triển các mạch máu bao quanh và nuôi khối u, làm giảm khả năng các tế bào ác tính di căn. Genistein cũng là chất có tác dụng chống oxi hoá, ổn định DNA của tế bào, phòng chống đột biến tế bào và giảm oxi hoá tế bào.

     Nhiều nghiên cứu kiểm soát giả dược cho thấy rằng thực phẩm đậu nành cũng như các bổ sung isoflavone không làm thay thay đổi phép đo nồng độ sinh khả dụng (testosterone) ở nam giới.Hơn nữa, sự bổ sung isoflavone đã không ảnh hưởng đến nồng độ tinh trùng, số lượng hoặc độ vận động của chúng và cho thấy không có sự thay đổi nào trong tinh hoàn hoặc khối lượng xuất tinh.

 

Ts. Lô Quang  Phú

Nghiên cứu viên cao cấp

Viện Y Học Bản Địa Việt Nam

Doctor SAMAN

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *