Suy nhược – Mệt mỏi – Nhược cơ – Đông Y Việt Bắc
Home / Cơ xương khớp & Cấp cứu / Suy nhược – Mệt mỏi – Nhược cơ

Suy nhược – Mệt mỏi – Nhược cơ

   KD SM

   Sự mệt mỏi, suy nhược, là những lời than phiền của mọi người trong cuộc sống hàng ngày mà chúng ta phải lao động (lao động này có thể là trí óc hoặc chân tay) để tạo ra của cải vật chất cho xã hội và để sinh tồn… sau hoạt động và lao động thường là mệt mỏi… hoặc sau một sang chấn tâm lý mà người ta hay gọi là Stresse (như bị thất vọng, bị thất tình, bị mất người thân, bị phá sản, tham vọng không đạt được…). Hoặc khi thay đổi thời tiết “trái nắng trở giời”… Trong phần chẩn đoán phân biệt giữa bệnh nhược cơ với một số bệnh khác, chúng tôi đã đề cập đến vấn đề này. Sự mệt mỏi – suy nhược – nhược cơ (hay yếu cơ nhưng không phải liệt thực thể), rất hay gặp trong cuộc sống hàng ngày, trong thực hành lâm sàng của các thày thuốc tại các cơ sở khám chữa bệnh, công lập và ngoài công lập, nội trú cũng như ngoại trú.

I. Vài nét tổng quan về mệt mỏi, suy nhươc.

– Theo một điều tra ở nước Anh cho thấy, có đến 38% trong dân chúng than phiền bị mệt mỏi,  có 18% số người suy nhược kéo dài hơn 6 tháng (Pawlikowska và cộng sự năm 1994), cũng tại nước này, một nghiên cứu khác trong thực hành chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho thấy có 10% số người đến khám bị suy nhược dài ngày. Còn các khoa lâm sàng tại các bệnh viện ở nước Mỹ cho biết suy nhược là triệu chứng hay gặp nhất. Một số tác giả khác cũng công bố có khoảng 1/4 đến 1/5 bệnh nhân đến phòng khám đa khoa mắc chứng suy nhược.

– Mệt mỏi –  suy nhược… khi đi kèm các rối loạn chức năng khác… mà chúng ta (các thày thuốc) khám không tìm được nguyên nhân thực thể trên bệnh nhân thì thường được chẩn đoán là hội chứng suy nhược (Asthenia). Tôi còn nhớ ngày học chuyên khoa Tâm thần được nghe các thày giảng về Tâm thần học, những năm 70 của thế kỷ XX, ngày ấy tâm thần học nước ta vẫn theo trường phái Tâm thần học của Liên Xô, nó đã thành công thức rồi, khi có hội chứng suy nhược trên người có loại hình trung gian (mà phần lớn chúng ta là loại này, tức là hệ thống tín hiệu thứ nhất và thứ hai cân bằng nhau,  nhưng yếu, khi có sang chấn tâm lý…) thì sẽ mắc bệnh Tâm căn suy nhược (tức là bệnh suy nhược thần kinh), còn hội chứng suy nhược ở người có loại hình thần kinh nghệ sỹ yếu, khi có sang chấn tâm lý sẽ mắc bệnh Tâm căn Hysteria), cuối cùng là loại hình thần kinh loại bác học, khi mắc hội chứng suy nhược sẽ mắc bệnh Tâm căn suy nhược tâm thần (như suy nghĩ miên man về rất nhiều chủ đề mà không rứt ra được…). Nhưng ngày nay đã có nhiều thay đổi, chúng ta đã hội nhập quốc tế, vì vậy ngành tâm thần học cũng  có nhiều thay đổi, chúng ta đã chẩn đoán theo bảng phân loại quốc tế… nhưng hội chứng suy nhược vẫn là vấn đề không đơn giản.

– Có thể nói rằng bất cứ một quá trình bệnh mạn tính nào cũng đều có thể dẫn đến suy nhược, bao gồm các bệnh nhiễm trùng, bệnh u ác tính, bệnh nội tiết, bệnh của tổ chức mô liên kết, bệnh thần kinh, rối loạn giấc ngủ tiên phát và hầu hết các bệnh tâm thần đều có thể biểu hiện bằng suy nhược.

– Trong một nghiên cứu  tiến cứu 405 trường hợp, thì số người phàn nàn vì mệt mỏi có chẩn đoán thực thể chỉ chiếm 2,7% (Manu, 1993), số còn lại khám lâm sàng cho thấy bình thường ở lần đầu và ở những bệnh nhân tuổi chưa cao. Còn các xét nghiệm lâm sàng cận lâm sàng thì hiếm khi giúp cho chẩn đoán ra nguyên nhân suy nhược (Lane và cộng sự, 1990). Tác giả Kroenke và cộng sự, năm 1988 đã nghiên cứu tiến cứu 52 trường hợp có biểu hiện suy nhược, nghiên cứu này đã xác lập được 15 trường hợp được chẩn đoán có liên quan đến suy nhược, có 10/52 được chẩn đoán trầm cảm, 5/12 chẩn đoán suy giáp, 4/12 do tác dụng phụ của thuốc. Số còn lại theo dõi trong thời gian 6 tháng thì có 93% bình phục hoàn toàn… không có trường hợp nào xấu đi trong quá trình theo dõi nghiên cứu.

– Nhiều người đến khám bệnh trông diện mạo bên ngoài thì chẳng ai bảo họ là có bệnh, thậm chí có người “ngoại đạo” (không phải thày thuốc) còn cho là họ giả vờ bệnh, còn bản thân họ là “người ở trong chăn” nên mới biết là “chăn có dận”. Ở những người này, họ thường lo lắng buồn phiền, vì thấy mọi cái “của mình” sao lại xuống nhanh như vậy, dẫn đến kém ăn, kém ngủ, đầu óc lúc nào cũng cảm thấy “có vấn đề” (như cảm thấy ong ong, nằng nặng… trong đầu), có bệnh nhân chỉ trong vòng vài tuần đã gầy rộc đi, xuống sức đến mức không thể ngờ nên mọi người xung quanh nghi và bảo bệnh nhân bị “lao lực”… Những bệnh nhân này thường thì họ đi khám rất nhiều nơi, có khi cả Tây y và Đông y, có khi còn cả cúng bái nữa… Trong cộng đồng nơi bệnh nhân sinh sống, hoặc khi ngồi chờ khám bệnh, khi nghe người khác kể bệnh… họ thường “liên hệ bản thân”, “vận vào” bản thân mình… và đến lượt mình họ thường trưng ra đầy đủ các đơn thuốc, các xét nghiệm, thăm dò chẩn đoán hình ảnh… từ nhiều các cơ sở khám bệnh khác nhau… Các kết quả cho thấy đều bình thường nhưng họ thì vẫn cứ băn khoăn, day dứt trong lòng, muốn tiếp tục làm “cho ra nhẽ” và cũng không ngại ngần tốn kém… để đi khám bệnh mong để tìm được ra nguyên nhân của bệnh, để trị “tận gốc”, trị “tiệt nọc” mới yên tâm.

– Với cách đặt vấn đề như vậy, suy nhược được khoanh lại trong phạm vi bài viết này của chúng tôi là mệt mỏi tâm thần, thần kinh, liên quan  đến suy giảm khả năng thích nghi hoàn cảnh, công việc, với môi trường xung quanh, với các mối liên hệ giữa người và người, bao gồm cả suy giảm tình dục, một lĩnh vực rất tế nhị và nhạy cảm mà là mối quan tâm của không ít người hiện nay.

– Suy nhược như vậy quả là một vấn đề tâm lý xã hội, y sinh phức tạp, cho đến nay thế giới cũng chưa có một định nghĩa nào được cho là thoả đáng, chính xác phản ánh đúng thực chất bên trong tương ứng với các biểu hiện lâm sàng bên ngoài.

– Bài viết này của chúng tôi nhằm cung cấp cho người đọc biết phần nào những nỗ lực tìm kiếm, nghiên cứu  mới đây của một số tác giả trên thế giới về định nghĩa, phân loại, chẩn đoán, với mong muốn được đóng góp phần nào cho bạn đọc có được một hiểu biết nhất định cho vấn đề phức tạp, khó khăn là suy nhược này.

II. Định nghĩa suy nhược.

   Suy nhược có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Đó là:

– Sự kiệt quệ sức lực bất thường sau những hoạt động thông thường.

– Sự suy giảm năng lực đối với những công việc đòi hỏi sự chú ý và cố gắng bền bỉ.

– Sự suy yếu nói chung trong khả năng hoạt động.

– Y học cổ truyền phương Đông lại quan niệm suy nhược là sự vơi cạn năng lượng “tinh, khí, thần”, vì năng lượng bị mất đi mà chưa kịp bù đắp.

   Định nghĩa suy nhược thực tế dựa vào triệu chứng lâm sàng và diễn biến của bệnh sử, sẽ giúp chúng ta tránh được những khó khăn và sự mập mờ do thiếu một định nghĩa chính xác và những thang điểm đo lường tin cậy, khách quan. Theo đó, suy nhược được chia thành: suy nhược sinh lý, suy nhược cấp tính, suy nhược mạn tính.

+ Suy nhược sinh lý là kiểu suy nhược sẽ có hy vọng được phục hồi ở những người lành mạnh về thể chất và tinh thần sau một sự mất cân bằng trong hoạt động, nghỉ ngơi và ăn uống. Loại suy nhược này thường gặp ở phụ nữ mang thai, ở cặp vợ chồng mới sinh con, ở người làm việc thêm giờ buổi tối hoặc làm ca kíp hoặc bận rộn quá nhiều việc cùng một lúc…

+ Suy nhược cấp tính: là loại suy nhược không thể cắt nghĩa bằng suy nhược sinh lý, kéo dài dưới 6 tháng và không trở lại bình thường bằng nghỉ ngơi

+ Suy nhược mạn tính: kéo dài trên 6 tháng, và gồm có 2 tiêu chuẩn chính và 11 tiêu chuẩn phụ, khi chẩn đoán phải có 2 tiêu chuẩn chính và 8 trong 11 tiêu chuẩn phụ, trong bảng tiêu chuẩn CDC(Center Disease Control của Mỹ).

III. Bảng phân loại theo tiêu chuẩn CDC (Center Disease Control của Mỹ) dành cho suy nhược mạn tính.

TIÊU CHUẨN CHÍNH

   Bệnh nhân phải có cả 2 tiêu chuẩn chính:

  1. Không hết mệt mặc dù được nghỉ ngơi.
  2. Giảm các hoạt động hàng ngày xuống còn 50% mà vẫn mệt. Loại trừ các bệnh mạn tính khác.

CÁC TIÊU CHUẨN PHỤ

   Bệnh nhân phải có ít nhất 8 tiêu chuẩn phụ:

  1. Sốt nhẹ hoặc gai sốt (38,6 độ C)
  2. Đau họng.
  3. Đau hạch nách, hạch cổ trước và sau.
  4. Mệt mỏi cơ toàn thân không rõ lý do.
  5. Đau cơ và mỏi cơ.
  6. Mệt mỏi kéo dài (trên 24 giờ), sau một hoạt động trước đó chịu đựng được.
  7. Đau toàn bộ đầu mới xãy ra.
  8. Đau khớp không phải viêm, chuyển  chỗ.
  9. Những than phiền về thần kinh tâm lý (sợ ánh sáng, ám điểm khi nhìn, dễ quên, dễ bực bội, cáu kỉnh, hay bị lẫn, tư duy chậm chạp, khó tập trung, trầm cảm…)
  10. Rối loạn giấc ngủ, ngủ nhiều mê mệt hoặc mất ngủ.
  11. Xảy ra một phức hợp các triệu chứng trong vòng vài giờ hoặc vài ngày.

   Chúng tôi đưa ra bảng phân loại này chỉ với mục đích cho các bạn tham khảo và cũng để muốn nói lại một điều hội chứng suy nhược là vấn đề khá phức tạp và hắc búa.

IV. Vấn đề sinh lý bênh học Thần kinh đối với suy nhược      .

   Suy nhược được xem như là một sự suy yếu hoạt động của toàn bộ hoạt động sống của cơ thể (tế bào, mô, cơ quan trong cơ thể…).

   Vậy thì cơ quan nào trong cơ thể người giữ vai trò chủ chốt của cơ chế bệnh sinh suy nhược?. Người ta thấy đó là hệ thần kinh trung ương với đồng hồ sinh học gồm nhân trên chéo thị giác phía trước hạ khâu não (Nucles Suprachiasnatic) với chất Melatonin sản xuất ra ở tuyến Tùng (Pineal  Gland). Nhân trên chéo thị giác giữ vai trò nhạc trưởng “tạo nhịp” cho hoạt động của hệ thần kinh tự chủ và cùng với Melatonin  điều chỉnh giờ giấc thức ngủ, trong khi vẫn duy trì được thế cân bằng động bên trong cơ thể cho phù hợp với những biến đổi của môi trường bên ngoài.

   Một khi hoạt động của đồng hồ sinh học bị “ hỏng hóc hay trục trặc “sẽ dẫn đến rối loạn giấc ngủ, cơ thể dễ bị kích thích, rối loạn khí sắc, rối loạn nhận thức, rối loạn sự tập trung và dẫn đến suy nhược. Thí dụ rõ nhất dễ nhận thấy là khi chúng ta đi máy bay, khi thay đổi thời tiết…

   Cấu trúc thứ hai có vai trò cực kỳ quan trọng trong điều hoà hoạt động phối hợp của toàn bộ hệ thần kinh đi từ tuỷ sống đến vỏ não: đó chính là hệ thống lưới. Hệ thống này có liên hệ rất chặt chẽ với hệ tháp, với hệ ngoại tháp, tiểu não, hệ thống viền, đồi thị, dưới đồi, hồi hải mã thông qua 4 hệ thống thần kinh nội tiết sau đây:

Trong bài viết này chúng tôi có sử dụng một số tư liệu của Bs Nguyễn Bá Bôi, trưởng khoa Thần kinh bệnh viện Việt Tiệp thành phố Hải Phòng, chúng tôi xin cảm ơn Bs Nguyễn Bá Bôi

+ Hệ thống tiết và dẫn truyền Serotonin.

+ Hệ thống tiết và dẫn truyền Dopamin.

+ Hệ thống tiết và dẫn truyền Noradrenalin.

+ Hệ thống tiết và dẫn truyền Acetylcholin.

   Các chất nội tiết thần kinh này đảm bảo sự phối hợp hài hoà các chức năng hành vi, cảm xúc, cảnh tỉnh, trí nhớ và sự nhạy bén của não.

   Trong điều trị chứng suy nhược, trong tây y có loại Sulbutiamin (Arcalion), có tác dụng làm tăng Cholin trong thân não và người ta đã chứng minh được bằng phương pháp phóng xạ tự ghi (Autoradiographia). Còn đối với Viện Y học bản địa Việt Nam, qua thực tế điều trị, loại Khởi dương lúc đầu áp dụng để điều trị hỗ trợ sinh lý… nhưng  quá trình điều trị chúng tôi thấy:  áp dụng Khởi dương để điều trị chứng suy nhược lại cho kết quả khả quan. Tuy nhiên chúng tôi còn phải tiếp tục nghiên cứu loại Khởi dương này.   

Ban biên tập

Viện Y học bản địa Việt Nam

Doctor SAMAN

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *