Home / Nghiên cứu khoa học / Tác dụng hoạt chất sinh học của một vài glycozit trong dược liệu

Tác dụng hoạt chất sinh học của một vài glycozit trong dược liệu

   Glycozit là hợp chất hữu cơ tạo thành do sự ngưng tụ giữa một phân tử đường với một phân tử hữu cơ khác, với điều kiện nhóm hydroxy bán acetal của phần đường phải tham gia vào sự ngưng tụ.

   Glycozit là nhóm các hợp chất hữu cơ có trong nhiều loài thực vật, khi bị thủy phân sinh ra phần đường (thường là glucozơ) và một hợp chất hữu cơ khác  không  có  tính  đường, không tan trong nước (gọi là aglycon hay genin) còn được gọi là heterozit. Glycozit là những chất đặc, không bay hơi, thường có khả năng kết tinh, chỉ có một số ít vô định hình.

   Dựa vào tác dụng dược lý của glycozit người ta phân thành ba nhóm: glycozit tim, glycozit đắng,  glycozit loại xyanogen.

a) Glycozit trợ tim:

   Glycozit trợ tim (hay còn gọi glycozit tim) là một nhóm glycozit có cấu trúc steroit, có tác dụng đặc hiệu đối với bệnh tim, nhưng với liều cao chúng là các chất gây độc, nên từ thời cổ xưa nhiều dân tộc ở nhiều nước trên thế giới đã biết sử dụng các chất này để tẩm vào mũi tên dùng trong săn bắn. Trong cây, chúng tồn tại ở dạng glycozit hoà tan trong các dịch tế bào.

   Dưới tác dụng của enzym hay axit loãng, các glycozit bị thuỷ phân tạo thành các genin và các ozơ (các ozơ thường gặp trong các glycozit trợ tim là: D-glucozơ, L-ramnozơ, D-xylozơ; các ozơ 2-dezoxy như: digitorozơ, oleandrozơ và các ozơ đặc biệt như: L-talometylozơ, D-boivinozơ, D-xymarozơ…). Các glycozit tim thường tan nhiều trong nước và cồn loãng, ít tan trong các dung môi không phân cực như ete, dầu, benzen… Glycozit tim phân bố trong khoảng 10 họ thực vật.

   Tác dụng của glycozit tim làm tăng sức co bóp của cơ tim cả ở người lành lẫn người bệnh; làm tăng trương lực cơ tim: làm ngắn chiều dài của các sợi cơ tim đã bị căng, giãn do vậy làm tăng trương lực cơ tim, giảm thể tích và kích thước tim; làm chậm nhịp tim: do vừa có tác dụng trên dây thần kinh phế vị, vừa làm giảm tính tự động của nút xoang; làm giảm dẫn truyền trong nhĩ, đặc biệt nút nhĩ thất; làm giảm tính kích thích của cơ tâm nhĩ, nhưng trái lại, làm tăng tính kích thích của cơ tâm thất; gây lợi tiểu nhẹ do giảm tái hấp thu natri ở ống lượn gần.

   Ví dụ, một số genin glycozit trợ tim thường gặp:

1

   Digitoxigenin có trong lá cây dilitagis.

   Bufadienolid có trong cây hành biển, nhựa cóc.

   Tomatidin có trong lá cà chua dại.

   Solanidin có trong mầm củ khoai tây.

 Glycozit cường tim thường gặp trong các họ thực vật trúc đào (Nerium leander L., Apocynaceae), thông thiên (Thevetia peruviana (Pers.) K., Apocynaceae), strophantus (Strophanthus sp.), dương địa hoàng (Digitalis purpurea L., và Digitalis lanataEhrh., Scrophulariaceae), hạt đay (Corchorus olitorius L., Tiliaceae), hành biển (Urginea maritima L., Liliaceae), hoa mõm chó, hoàng liên, vòi voi… (trong động vật có trong nhựa con cóc). Những glycozit gặp trong cùng một cây thường chỉ khác nhau rất ít về cấu trúc hoá học.

b) Glycozit đắng (Heterozit đắng)

   Chất đắng có ở khắp các bộ phận của cây và hoà tan trong dịch của tế bào.

   Phần lớn chất đắng có trong cây ở các họ sau đây: họ long dởm: gentianaceae, cúc: compesiteae; cam quýt: rutaceae. Về mặt cấu trúc hoá học, nó chỉ bao gồm cacbon, hydro, oxy, không chứa nitơ. Chất đắng khác với các ancaloit đắng (strichnin, quinin) là không độc.

   Glycozit đắng có tác dụng kích thích sự ngon miệng. Bên cạnh sự kích thích ngon miệng nó cũng làm cho khả năng tiêu hoá được tăng lên. Nhưng nếu đắng quá thì quá trình tác dụng ngược lại.

   Ví dụ, trong quả mướp đắng (Momordica charantia L.) có chứa glycozit đắng: momordixin, charantin. Theo Đông y mướp đắng vị đắng, lạnh; vào tỳ vị tâm can. Tác dụng thanh giải thử nhiệt, minh mục giải độc, tác dụng kích thích tiêu hóa…

2

   Glycozit đắng có tác dụng kích thích sự ngon miệng. Bên cạnh sự kích thích ngon miệng nó cũng làm cho khả năng tiêu hoá được tăng lên. Nhưng nếu đắng quá thì quá trình tác dụng ngược lại. 

   Ví dụ, trong quả mướp đắng (Momordica charantia L.) có chứa glycozit đắng: momordixin, charantin. Theo Đông y mướp đắng vị đắng, lạnh; vào tỳ vị tâm can. Tác dụng thanh giải thử nhiệt, minh mục giải độc, tác dụng kích thích tiêu hóa…

c) Glycozit thuộc loại xyanogen

   Là glycozit khi thuỷ phân cho một phần đường và một phần không đường là axit xyanhydric (HCN). Axit xyanhydric là chất rất độc đối với hô hấp và hệ tuần hoàn, nhưng với liều lượng nhất định có tác dụng trấn tĩnh trung khu hô hấp. Lúc đầu nó làm hứng phấn nhưng về sau có tác dụng ức chế giảm đau bởi sự vận động hô hấp. Do đó có tác dụng chữa ho. Nó cũng có tác dụng sát trùng và giảm đau.

   Do vậy trong thực tế lâm sàng người ta thường dùng dược liệu dưới dạng nguyên, khi vào cơ thể, HCN trong dược liệu được giải phóng ra một cách từ từ vì vậy không gây độc cho cơ thể.

3

Ví dụ như trong lâm sàng không dùng HCN để chữa ho mà dùng khổ hạnh nhân để chữa ho . Vì khi vào cơ thể amygdalin có trong khổ hạnh nhân bị thuỷ phân, giải phóng ra HCN một cách từ từ không gây độc cho cơ thể. 

Hứa Văn Thao

Phó Viện trưởng Viện Y học bản địa Việt Nam

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *