Vừng đen – Đông Y Việt Bắc
Home / Đông dược / Vừng đen

Vừng đen


Vừng đenVừng là tên gọi ở miền Bắc, miền Nam gọi là mè, tên khoa học là Sesamum indicum; Đông y gọi là Chi ma, Hồ ma, Hồ ma nhân. 100g Vừng trắng sinh 587 calori, có thành phần như sau: 7,2g nước, 25g protein, 55g lipid 6,9g glucid, 702mg photpho, 423mg kali, 71mg calci, 220mg manhê, 1mg đồng, 4,3mg sắt, 2,2mg mangan, 6mg nicotinamid. Dầu vừng làm từ vừng trắng; nó có 40% acid béo nhiều nối đôi, 40% acid béo một nối đôi, 18% acid béo bão hoà. Tỷ lệ 4.4.1 đạt tiêu chuẩn vì yêu cầu lý thuyết là mỗi thứ 1/3, nhưng trong thức ăn hàng ngày thường có acid béo bão hoà; dầu vừng ít acid béo bão hoà, phối hợp chung thành mỗi thứ 1/3. Như vậy ăn dầu vừng tốt hơn dầu dừa, dầu cọ. Dầu vừng để lâu không bị ôi– Trước khi chiên rán thức ăn cần để ráo nước vì những hạt nước làm cho dầu bắn tung toé dễ bị phỏng. Để tránh tai nạn, hãy cho vài hạt muối vào chảo dầu, đợi khi muối tan hãy cho thức ăn vào, dầu sẽ không bắn lên nữa. Đây là bí quyết của các bà nội trợ, chưa được lý giải thoả đáng. Để làm muối vừng, cần rang nóng cho thơm rồi giã vỡ hạt vừng, dầu vừng ứa ra sẽ thơm ngon hơn, tuy nhiên ca dao lại có câu: Vò thì vò đỗ vò vừng, Như đây với đó xin đừng vò nhau. 100mg Vừng đen sinh 560 calcori, có thành phần như sau: 7,2g nước, 19g protein, 50g lipid, 18g glucid, 780ng photpho, 620mg kali, 1257mg calci, 347mg manhê, 1,1mg đồng, 11,5mg sắt, 3,1mg mangan, 5mg nicotinamid. Ngoài ra còn có lecithin, phytin, cholin. Đông y dùng Vừng đen làm thuốc. Nó có vị ngọt, tính bình, không độc. Nó có tác dụng bổ ích can thận, dưỡng huyết, khu phong, nhuận tràng, bổ ngũ tạng, tăng khí lực, làm sáng mắt, phát triển bắp thịt, bổ ích tinh tủy. Mặc dù phân tích hoá học không thấy khác biệt nhiều giữa thành phần của vừng trắng và vừng đen nhưng kinh nghiệm sử dụng chỉ dùng vừng đen với ý nghĩ màu đen đi vào thận nên vừng đen bổ thận. Y học dân gian cho rằng nước sắc lá và rễ vừng đen bôi lên đầu làm tóc mọc tốt và đen hơn. Hoa vừng đen vò nát đắp lên mắt làm dịu sưng đỏ. Hạt vừng được dùng làm nhiều “Món ăn-bài thuốc”:

1- Đơn giản nhất là món Cháo mè đen ghi trong Thọ thân dưỡng lão tân thư. Cháo này thơm ngon, ngọt bùi. Nó là món ăn bổ dưỡng với đủ ba nhóm thực phẩm chính là protein, lipid, glucid. Cháo này ghi trong sách Thọ thân dưỡng lão tân thư với lý do:

* Người gìa yếu răng, nuốt hay bị sặc, ăn cháo thật hợp lý.

* Vừng đen quân bình các chất bổ dưỡng

* Người gìa âm suy, tân dịch suy giảm.Vừng đen bổ âm, sinh tân dịch.

* Người già thường bị táo bón, vừng làm phân trơn nhuận do bổ âm và có chất dầu, nghĩa là trị táo bón cả gốc lẫn ngọn. (xem giải thích ở đoạn dưới)

2- Chè mè đen gồm mè đen, bột sắn dây, đường. Bài này bổ âm, giải nhiệt.

3- Tang ma hoàn gồm vừng đen và lá dâu. Giản tiện hơn là luộc lá dâu non rồi chấm với vừng. Đây là bài thuốc bổ âm an toàn và công hiệu. Món ăn này nhuận trường êm dịu, không gây đau thắt như các thuốc nhuận trường kích thích (lô hội = đảm nha, rễ Nhàu, Muồng…).

Táo bón có nhiều nguyên nhân:

* Thực phẩm thiếu chất xơ

* Gan tiết ít mật

* Ruột lười hoạt động, ít hoạt động cơ bắp.

* Không có thói quen đi cầu hàng ngày

* Âm suy, cơ thể khô ráo. Thuốc nhuận trường kích thích làm ruột co bóp; dùng dài hạn có thể bị nhờn. Điều nên làm là thay đổi thực đơn và tăng cường rau quả, vận động nhiều hơn, bổ âm và tân dịch. Tang ma hoàng nhuận trường với cơ chế:

* Cả hai đều bổ âm, sinh tân dịch

* Chất dầu cuả vừng làm phân trơn nhuận.

* Dầu vừng làm tăng tiết mật.

* Lá dâu kích thích nhu động ruột, làm cho phân không đóng tảng.

* Bài này trị bệnh táo bón cả gốc lẫn ngọn. Một số tài liệu ghi rằng bài này trị được cao huyết áp, nhức đầu, chóng mặt, hoa mắt, ù tai, tay chân tê dại, đó là những chứng do âm hư và can thận hư.

4- Cháo mè-khoai mỡ làm giảm cholesterol và ngưà xơ động mạch với cơ chế sau đây:

* Khoai mỡ khoá hoạt tính cuả cholesterol trong mật và thực phẩm để bài xuất theo phân.

* Mè đen kích thích gan tiết mật, giảm cholesterol-huyết.

* Bệnh tim mạch có nguồn gốc sâu xa là âm suy. Mè đen và khoai mỡ đều bổ âm.

4- Tăng tiết mật, ngừa sỏi mật.

* Dầu mè làm tăng tiết mật.

* Licithin cuả vừng bổ sung lecithin trong mật, tăng chất lượng mật.

* Chúng ta biết rằng một trong các nguyên nhân chính gây sỏi thận do cholesterol trong mật quá mức bão hoà nên kết tinh. Lecithin của vừng giúp nhũ hoá cholesterol nên không tạo sỏi. Đồng thời vừng làm tăng tiết mật nên có khả năng đẩy sỏi nhỏ vào ruột.

4- Món ăn-bài thuốc lợi sữa. Mè đen rang cho vào canh mướp. Cả hai vị đều lợi sữa. Mè đen làm tăng khẩu vị món canh mướp.

5- Dầu mè trị viêm nướu răng. Thành phần không xà phòng hoá trong dầu mè có khả năng chống viêm nha chu.

6- Bổ xương và trị thoái hoá khớp.

– 100g vừng có 1257mg calci và 3,1 mg mangan. Trên lý thuyết là vừng có nhiều calci hơn các thực phẩm thực vật khác.

– Mè đen bổ thận mà thận chủ cốt tuỷ

– Có người cho rằng vừng chống thoái hoá khớp là điều cần xét lại.

– Khớp xương tiếp nối hai đầu xương. Khớp gồm một màng bao bọc quanh đầu xương, sụn mềm và chất nhầy. Thoái hoá khớp có thể do mô sụn bị mài mòn mà không tái tạo, cũng có thể do thiếu chất nhày. Thoái hoá khớp có những biểu hiện: đau tại khớp, sưng, hoạt động khó khăn, cứng khớp vào buổi sáng khi mới ngủ dậy. Thoái hoá khớp liên quan đến sự lão hoá, do giảm tốc độ sinh chondrocyte và giảm chất nhầy.

– Vừng cải thiện sự thoái hoá khớp với cơ chế:

* Chống lão hoá Mangan cuả vừng tham gia cấu trúc enzym super oxyd dismuthase (SOD), một enzym quan trọng trong quá trình oxyd hoá. Bên cạnh đó, selenium là co-enzym của glutathion peroxydase cũng phong toả gốc tự do, chống lão hoá.

* Mangan còn tham gia tái tạo khung sụn.

* Protein và lipid cuả vừng cung cấp nguyên liệu tổng hợp chondroitin cho dịch khớp.

* Vừng đen đi vào thận nên bổ ích xương tủy.

7- Ma tử nhân hoàn (Thương hàn luận) gồm:Hồ ma nhân, Hạnh nhân, Hậu phác, Đại hoàng, Chỉ thực, Thược dược. Bài này nhuận trường thông tiện. Trị táo bón kéo dài, táo bón do lão suy Giải phương như sau:

* Hồ ma nhân: nhuận tràng, thông tiện.

* Hạnh nhân: giáng khí nhuận tràng.

* Thược dược dưỡng âm hoà can.

* Chỉ thực tán kết.

* Hậu phác tiêu thực

*| Đại hoàng thông hạ. Bài này dùng ít Đại hoàng.

BỔ XUNG


Tên khác: Hạt vừng đen, Mè Đen, Vừng Đen.

Tên khoa học: Sesamum indicum L., họ Vừng (Pedaliaceae).

Mô tả: Cây thảo có lông mềm, cao 60-100cm. Lá mọc đối, đơn, nguyên, có cuống, hình bầu dục, thon hẹp ở hai đầu. Hoa trắng, mọc đơn độc ở nách, có cuống ngắn. Quả nang kép dài, có lông mềm, có 4 ô mở từ gốc lên. Hạt nhiều, thuôn, vàng nâu hay đen, hơi bị ép dẹp, hầu như nhẵn, có nội nhũ. Hoa tháng 5-9, quả tháng 7-9.

Bộ phận dùng: Hạt già phơi khô của cây Vừng (Sesamum indicum L.).

Phân bố: Cây được trồng ở nhiều địa phương để lấy hạt làm thực phẩm.

Thu hái: Thu hái cây vào tháng 6-8. Cắt toàn cây, phơi khô, đập lấy hạt rồi lại phơi khô. Khi dùng, đồ thật kỹ, phơi khô sao vàng. Ngoài ra còn ép lấy dầu vừng.

Tác dụng dược lý:

+ Dầu Mè bôi lên niêm mạc có tác dụng làm giảm kích thích, chống viêm.

+ Có tác dụng giảm lượng cholesterol máu, phòng trị xơ cứng động mạch.

+ Dầu mè đen có tác dụng nhuận trường.

+ Là thức ăn nhiều chất dinh dưỡng đối với cơ thể.

Thành phần hoá học: 22% protein, 5% tro (trong đó có 1,7 mg đồng) 1% canxi oxalat, 6,3-8,8% chất không có nitơ có các chất: sesamin, sesamolin, sesamol, pedaliin planteose, không có nitơ có các chất: sesamin, sesamolin, sesamol, pedaliin planteose, 1,7% phần không xà phòng hóa; khoảng 1% lexitin. Trong dầu có chất sesamin với tỷ lệ chừng 0,25-1% và chất sesamol là một phenol, chừng 0,1%.

Công năng: Tư bổ can thận, ích tinh huyết, nhuận tràng, thông sữa.

Công dụng: Chữa can thận yếu, váng đầu hoa mắt, tê bại chân tay, đại tiện táo kết, sữa xuống không đều.

Bài thuốc

TT

Bài thuốc

Thành phần

Cách sử dụng

  1. 1.

Trị đạm niệu

Mè đen              500g

Hạch đào nhân 500g

Tán bột mịn, mỗi lần uống 20g với nước ấm và ăn 7 quả táo, ngày 3 lần, uống hết thuốc là 1 liệu trình.

Đã trị nhiều ca viêm thận mạn, thận hư nhiễm mỡ, thường là hết đạm niệu sau 1 liệu trình (Mã chiêm Thúc, Chi ma đào nhân trị đạm niệu, Báo Trung y Hà bắc 1985,6:21).

  1. 2.

Trị các bệnh cao huyết áp, xơ cứng động mạch, suy nhược thần kinh: có triệu chứng can thận âm hư như đau đầu, chóng mặt, hoa mắt, ù tai, huyết hư, chân tay tê dại, âm hư hiếp thống, tiện táo, dùng bài:

Tang chi ma

Tang diệp          1 kg

(tán bột mịn)

Mè đen             400g

(chưng chín giã nát)

Dùng nước làm hoàn, mỗi lần uống 6 – 12g

  1. 3.

Trị táo bón do khí hư

Mè đen

Trứng gà         1 quả

Đường mật

Mè đen sao tán bột 1-2 muỗng canh, trộn đều trứng gà, đỏ nước sôi thành hồ, thêm ít đường mật trộn vào uống

  1. 4.

Trị cao huyết áp

Mè đen

Hà thủ ô

Ngưu tất

(lượng bằng nhau)

Tán nhỏ, dùng mật viên, ngày uống 10g x 3 lần

  1. 5.

Thuốc lợi sữa

Mè đen

Mè đen sao qua, giã nhỏ cho thêm ít muối ăn hàng ngày cho lợi sữa. Có thể thêm Hoàng kỳ, Đương qui, Đảng sâm, Xuyên sơn giáp, Vương bất lưu hành

  1. 6.

Trị trẻ con Xích bạch lỵ

Dầu mè           5-10g

(tùy theo tuổi)

Hòa với mật ong uống

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 4 – 12g, dạng thuốc sắc, hoàn, tán.

Kiêng kỵ: Trường hợp tiêu chảy không nên dùng.


Doctor SAMAN

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *